Hoàn thiện chính sách, bảo đảm chuyển đổi số, thúc đẩy tiếp cận thông tin, phát triển kinh tế

Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” được khẳng định và thể hiện rõ trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong những năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam tích cực cam kết "giảm phát thải ròng bằng 0", thực hiện mục tiêu "Netzero" vào năm 2050.

Hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững. (Ảnh: HNV)

Hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững. (Ảnh: HNV)

Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm (1986-2026) ở Việt Nam nêu rõ, trong lĩnh vực sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, đã có nhận thức mới, ngày càng đầy đủ hơn, trở thành một nội dung quan trọng trong các văn kiện của Đảng, được xác định là một trọng tâm, trong thực hiện nghị quyết Đại hội.

Chính sách pháp lý bảo đảm tiếp cận thông tin về tài nguyên, môi trường

Điều 131, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định, thông tin môi trường phải được công khai gồm: Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; Các báo cáo về môi trường; Kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường. Các thông tin quy định thuộc danh mục bí mật nhà nước thì không được công khai.

Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng có quy định cụ thể về các loại thông tin môi trường được công khai tại Điều 114, theo đó Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp thông tin về môi trường.

Khai thác nguồn lực biển hợp lý vì sự phát triển bền vững nói chung. (Ảnh: HNV)

Khai thác nguồn lực biển hợp lý vì sự phát triển bền vững nói chung. (Ảnh: HNV)

Khoản 2, Điều 131, Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định yêu cầu hình thức công khai phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.

Nghị định 19/2015 ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đã cụ thể hóa các hình thức cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng dân cư như: tài liệu, ấn phẩm, xuất bản phẩm phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng; trang thông tin điện tử chính thức của cơ quan quản lý, chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; niêm yết công khai tại cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; họp báo công bố công khai; họp phổ biến cho cộng đồng dân cư; các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Cán bộ địa phương hỗ trợ người dân thao tác dịch vụ công tại trụ sở xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)

Cán bộ địa phương hỗ trợ người dân thao tác dịch vụ công tại trụ sở xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)

Việc cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng được cung cấp định kỳ ít nhất 1 lần/năm bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường; Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, địa phương; các báo cáo chuyên đề về môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường xây dựng và công bố; Danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các khu vực môi trường bị ô nhiễm, bị suy thoái nghiêm trọng; khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường lập và công bố; Danh sách, thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại đến sức khỏe con người và môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường lập và công bố; Các xuất bản phẩm, ấn phẩm theo chuyên đề về môi trường, tài liệu truyền thông về môi trường và các vấn đề liên quan; Kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn dân cư; Hoạt động bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn dân cư…

Các chuyên gia quốc tế và trong nước đều chung nhận định, Việt Nam đang phải đương đầu với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng cùng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang đặt ra những vấn đề nóng bỏng, thách thức đối với sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.

Từng bước đưa Luật Tiếp cận thông tin sát với thực tiễn

Liên quan tiếp cận thông tin nói chung, từ 2016 đến 2026, Luật Tiếp cận thông tin 2026 đã có những điều chỉnh, thay đổi để ngày càng phù hợp với thực tế phát triển của thời đại.

Theo đó, Luật Tiếp cận thông tin 2026 được Quốc hội ban hành ngày 23/4/2026 quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Trước đó, Luật Tiếp cận thông tin được Quốc hội thông qua ngày 6/4/2016 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2018. Luật được đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cụ thể hóa quyền công dân được quy định tại Điều 25, Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế về tự do thông tin, phòng chống tham nhũng.

Luật này cũng quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đặc biệt, đây là luật quy định các nguyên tắc, thủ tục và quy trình để các cơ quan nhà nước công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự-hành chính, Bộ Tư pháp. (Ảnh: HNV)

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự-hành chính, Bộ Tư pháp. (Ảnh: HNV)

Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự-hành chính, Bộ Tư pháp cho rằng, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 gồm 4 chương, 31 điều (so với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã giảm 1 chương và giảm 6 điều) được sửa đổi toàn diện nhằm: bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; tăng cường trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân; phù hợp với chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; phát triển Chính phủ số khắc phục những hạn chế, bất cập qua các năm.

Theo Tiến sĩ Kim Thoa, Luật 2026 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng có trách nhiệm cung cấp thông tin, trong đó quy định phạm vi điều chỉnh khi không chỉ quy định việc tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra, nắm giữ mà còn áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu và các đơn vị được Nhà nước giao quản lý.

“Quy định này phản ánh thực tiễn hiện nay khi nhiều dịch vụ công được thực hiện thông qua các đơn vị sự nghiệp công lập và người dân có nhu cầu tiếp cận thông tin liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình”, Tiến sĩ Thoa nêu rõ.

Chỉ ra một số lưu ý quan trọng của Luật Tiếp cận thông tin 2026 với một số lĩnh vực được xã hội quan tâm đặc biệt như môi trường, đất đai, Tiến sĩ Kim Thoa cho hay, trong thông tin về môi trường có các quy định: thông tin về chất lượng môi trường, ô nhiễm môi trường; kế hoạch ứng phó sự cố môi trường; thông tin về sự cố môi trường; thông tin về các nguồn thải vào môi trường nước mặt và các nguồn có nguy cơ gây ra sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố; báo cáo đánh giá tác động môi trường; giấy phép môi trường; thông tin về di sản thiên nhiên, hệ sinh thái tự nhiên, loài sinh vật và nguồn gen; khu bảo tồn thiên nhiên và cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; vùng đất ngập nước quan trọng; kết quả quan trắc chất lượng môi trường đất, không khí, nước mặt, nước dưới đất, nước biển, trầm tích, môi trường thủy sinh của nguồn nước mặt…

Lưu ý thông tin về đất đai, nữ Tiến sĩ cho biết, điểm 1, khoản 1, Điều 17 của Luật quy định thông tin phải công khai bao gồm: “thông tin về kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan dự án, công trình trên địa bàn; kết quả điều tra, đánh giá đất đai; quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc; mốc giới sử dụng đất trong hành lang bảo vệ an toàn”.

Cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về quyền tiếp cận thông tin môi trường cho cả người dân và đặc biệt các cơ sở sản xuất, kinh doanh về cách thức thực thi trách nhiệm cung cấp thông tin môi trường mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện theo quy định.

Giảng viên Nguyễn Thị Hằng, Khoa Pháp luật kinh tế, Trường đại học Luật Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quyền tiếp cận thông tin môi trường của người dân, giảng viên Nguyễn Thị Hằng, Khoa Pháp luật kinh tế, Trường đại học Luật Hà Nội đề xuất: Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, nhất là cần có các quy định giải quyết trường hợp khi người yêu cầu cung cấp thông tin môi trường có quyền khiếu nại trong các trường hợp cụ thể như bị từ chối cung cấp thông tin môi trường không phù hợp với các căn cứ theo quy định về cơ sở từ chối cung cấp thông tin; thông tin được cung cấp không phải là thông tin mà người dân yêu cầu.

Song song, theo giảng viên Nguyễn Thị Hằng, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về quyền tiếp cận thông tin môi trường cho cả người dân và đặc biệt các cơ sở sản xuất, kinh doanh về cách thức thực thi trách nhiệm cung cấp thông tin môi trường mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện theo quy định.

Chuyên mục "Tiếp cận thông tin" trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)

Chuyên mục "Tiếp cận thông tin" trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)

Đồng thời, giảng viên Hằng kiến nghị, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cung cấp và tiếp cận thông tin môi trường. Đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành tài nguyên môi trường cũng như số hóa những nguồn thông tin chưa ở dạng số nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, phục vụ quản lý, nghiên cứu và tích hợp vào cơ sở dữ liệu chung.

Bên cạnh đó, cần cung cấp, tiếp nhận thông tin môi trường qua Internet tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, dễ dàng. Xây dựng thống nhất biểu mẫu điện tử trong hoạt động tiếp cận thông tin môi trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc, tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong công tác quản lý, điều hành và trao đổi thông tin môi trường.

Ông Nguyễn Đức Lam, Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS) thuộc Hội truyền thông số Việt Nam. (Ảnh: THANH LOAN)

Ông Nguyễn Đức Lam, Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS) thuộc Hội truyền thông số Việt Nam. (Ảnh: THANH LOAN)

Trao đổi cùng chúng tôi khi đề cập góc nhìn giới trong tiếp cận thông tin thời đại chuyển đổi số hiện nay, ông Nguyễn Đức Lam, Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS) thuộc Hội truyền thông số Việt Nam đã khẳng định: Quyền trên môi trường số cần được nhìn nhận là một phần không thể tách rời của hệ sinh thái số, bao gồm hạ tầng số, kinh tế số và xã hội số. Trên thực tế, công nghệ số, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), đang mang lại rất nhiều cơ hội mới: tạo giá trị gia tăng, nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ người khuyết tật, mở rộng dịch vụ cho vùng sâu, vùng xa...

Tuy nhiên, theo ông Lam, số liệu chỉ ra vẫn tồn tại khoảng cách số và bất bình đẳng số đáng kể: chỉ 34% người khuyết tật tiếp cận được Internet so với 74% người không khuyết tật (Tổng cục Thống kê 2023, nay là Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính); ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hầu như không hiện diện trên Internet, gây hạn chế cho các hệ thống AI.

Đồng thời, ông cũng cảnh báo nguy cơ thiên vị thuật toán, định kiến giới, sắc tộc, và hình thức bạo lực giới trên không gian số, từ đó đề xuất 3 lớp giải pháp: kỹ thuật, xã hội và pháp lý với nguyên tắc xuyên suốt con người và công nghệ cần được phát triển song hành, đổi mới không tổn hại quyền con người.

Như vậy, hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững mà không đánh đổi môi trường.

Việc mở rộng trách nhiệm công khai thông tin theo quy định pháp lý mới cùng sự hỗ trợ của công nghệ số đã giúp người dân, bao gồm cả các nhóm yếu thế, tiếp cận dữ liệu nhanh chóng và bình đẳng hơn. Do đó, kết hợp đồng bộ giữa giải pháp pháp lý, hạ tầng công nghệ và tinh thần “công nghệ đồng hành cùng quyền con người” sẽ tạo động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công cam kết netzero vào năm 2050.

VIỆT HÀ - THANH LOAN - PHƯƠNG LAN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/hoan-thien-chinh-sach-bao-dam-chuyen-doi-so-thuc-day-tiep-can-thong-tin-phat-trien-kinh-te-post995967.html