Hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống tội phạm mạng và công nghệ cao
Dự thảo Nghị định quy định về phòng, chống tội phạm mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao lần đầu tiên xác lập rõ các hành vi vi phạm trên không gian mạng và chế tài xử lý tương ứng.

Luật An ninh mạng được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Hệ thống hóa hành vi vi phạm trên không gian mạng theo từng lĩnh vực
Dự thảo Nghị định cụ thể hóa Khoản 5, Điều 14 của Luật An ninh mạng, bao gồm các nội dung về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý tội phạm mạng, đồng thời xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
Dự thảo Nghị định lần đầu hệ thống hóa chi tiết các hành vi vi phạm trên không gian mạng theo từng lĩnh vực cụ thể.
Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, Khoản 1, Điều 8 quy định các hành vi vi phạm gồm: kinh doanh, vận chuyển trái phép hàng hóa; buôn bán hàng cấm, hàng giả; lừa dối khách hàng; vi phạm thương mại điện tử; thiết lập, vận hành các sàn giao dịch trái phép; cung cấp thông tin sai sự thật; lợi dụng nền tảng số để gian lận thương mại và mua bán dữ liệu cá nhân. Đồng thời, Khoản 2 Điều luật này cũng xác định tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp bổ sung.
Đối với hành vi lừa đảo trực tuyến, Điều 11 quy định cụ thể các hình thức như: giả danh cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân để lừa đảo; kêu gọi đầu tư tài chính, tiền ảo nhằm chiếm đoạt tài sản; sử dụng mã độc, khai thác lỗ hổng hệ thống; làm giả giấy tờ, thông tin; đăng tải thông tin sai sự thật để chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, Điều này cũng quy định về các hành vi cung cấp công cụ, phần mềm để thực hiện hành vi lừa đảo trực tuyến tạo lập, vận hành hoặc hỗ trợ các nền tảng, phần mềm, thiết bị (như website giả mạo, tài khoản mạng xã hội giả, tổng đài ảo, hệ thống SIM số lượng lớn…) nhằm giả danh, lan truyền thông tin sai lệch hoặc hỗ trợ người khác thực hiện hành vi lừa đảo trên không gian mạng.
Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, Khoản 1, Điều 12 quy định hàng loạt hành vi vi phạm như thu thập, mua bán dữ liệu tài khoản; cung cấp dịch vụ cho vay trái phép; thiết lập sàn tiền ảo, ngoại hối trái phép; rửa tiền; tạo ứng dụng ngân hàng giả; sử dụng danh tính giả để mở tài khoản; gian lận chứng khoán; mua bán hóa đơn trái phép… và Khoản 2 Điều này quy định chế tài xử lý tương ứng.
Ngoài ra, dự thảo còn quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong nhiều lĩnh vực khác như sở hữu trí tuệ (Điều 9): đăng tải, chia sẻ nội dung vi phạm bản quyền, sử dụng trái phép phần mềm, ứng dụng; trò chơi điện tử (Điều 10): cung cấp game không phép, gian lận, rửa tiền qua game; công nghệ thông tin, viễn thông (Điều 13): phát tán mã độc, xâm nhập trái phép hệ thống; trật tự xã hội (Điều 14): mua bán ma túy, vũ khí, giấy tờ giả, sử dụng AI để giả mạo; đánh bạc trực tuyến (Điều 15); quảng cáo trên không gian mạng (Điều 16); xâm hại trẻ em trên không gian mạng (Điều 17).
Việc quy định chi tiết theo từng điều khoản giúp nhận diện rõ ràng các hành vi tội phạm công nghệ cao, khắc phục tình trạng thiếu quy định cụ thể trước đây.
Chế tài xử phạt nghiêm khắc
Dự thảo Nghị định còn quy định rõ chế tài xử lý với tính chất toàn diện, nghiêm khắc.
Theo Khoản 2, Điều 8, Khoản 4, Điều 11, Khoản 2 Điều 12, Khoản 2 Điều 13, Khoản 2 Điều 14…, tổ chức, cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, các biện pháp xử phạt bổ sung được áp dụng như tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép kinh doanh, tên miền, tài khoản số; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
Đáng chú ý, Điều 19 dự thảo quy định thẩm quyền của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao, bao gồm thu thập, phân tích, giám định dữ liệu điện tử; kiểm tra, giám sát phương tiện điện tử; yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu; yêu cầu phong tỏa, tạm dừng giao dịch tài khoản; ngăn chặn, đình chỉ hoạt động của hệ thống, website vi phạm; thu giữ tài sản số liên quan đến hành vi vi phạm.
Bên cạnh đó, Điều 21 quy định rõ trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ như định danh, xác thực người dùng; lưu trữ và cung cấp dữ liệu; phối hợp với cơ quan chức năng; tạm dừng giao dịch khi có yêu cầu; chịu trách nhiệm nếu không thực hiện. Đồng thời, cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ phải bảo mật tài khoản, không cho mượn, cho thuê; nếu tài khoản bị sử dụng để vi phạm thì chủ tài khoản vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng.
Như vậy, dự thảo Nghị định đã thiết lập một hệ thống chế tài xử phạt riêng, đồng bộ và chặt chẽ đối với tội phạm công nghệ cao, với việc gắn rõ hành vi cùng với chế tài xử lý, đồng thời tăng cường thẩm quyền của cơ quan chức năng và trách nhiệm của các chủ thể trên không gian mạng. Hiện dự thảo Nghị định được Bộ Công an đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, trước khi hoàn thiện, trình Chính phủ xem xét, ban hành.











