Hoàn thiện quy định, nâng cao hiệu quả hòa giải ở cơ sở
Sáng 25/9, tại Tây Ninh, Bộ Tư pháp tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở.
Tham dự hội thảo có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc - Tổ trưởng Tổ soạn thảo dự thảo Nghị định; bà Trần Thị Thanh Lam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp); đại diện Văn phòng Chính phủ, lãnh đạo UBND tỉnh Tây Ninh, ngành Tư pháp cùng đại diện các địa phương và hòa giải viên khu vực phía Nam.
Luật mới mở rộng vai trò của hòa giải ở cơ sở
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc cho biết ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở số 16/2026/QH16. Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.

Toàn cảnh buổi hội thảo (ảnh: Khánh Toàn)
Theo Thứ trưởng, Luật năm 2026 được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế của Luật năm 2013, đồng thời tạo thêm các giải pháp thúc đẩy công tác hòa giải trong bối cảnh mới.
Một điểm đáng chú ý là Luật đa dạng hóa nguồn lựa chọn hòa giải viên, hoàn thiện tiêu chuẩn, linh hoạt phương thức bầu và bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên. Quy định này nhằm kết hợp sự tín nhiệm của cộng đồng với yêu cầu linh hoạt trong kiện toàn tổ hòa giải.
Luật cũng mở rộng nguồn lực xã hội tham gia hòa giải, quy định về hình thức tham gia, quyền và nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải nhằm hỗ trợ hòa giải viên xử lý những vụ việc phức tạp, bảo đảm đúng pháp luật và phù hợp phong tục, tập quán.
Về nguồn lực, Luật xác định ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Cùng với đó, chuyển đổi số được khuyến khích nhưng phải gắn với yêu cầu bảo mật thông tin, tính tự nguyện và điều kiện thực tế của từng địa phương. Kết quả hòa giải thành cũng được nâng cao giá trị pháp lý khi ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án nhân dân công nhận kết quả hòa giải thành theo pháp luật tố tụng dân sự.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc phát biểu khai mạc hội thảo (ảnh: Khánh Toàn)
Đặc biệt, Luật chuyển từ tư duy chỉ giải quyết mâu thuẫn sang chủ động phòng ngừa. Các bên được tự do lựa chọn hòa giải, đồng thời tăng trách nhiệm nhận diện, ngăn ngừa sớm những mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực; bổ sung quy định về bố trí người phiên dịch cho người dân tộc thiểu số trong trường hợp cần thiết.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc đề nghị các đại biểu tập trung góp ý những nội dung thiết thực, nhất là những vấn đề còn vướng mắc từ thực tiễn, qua đó tạo điều kiện để hòa giải viên và tổ hòa giải phát huy vai trò trong giải quyết tranh chấp tại cộng đồng dân cư.
Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Tại hội thảo, các hòa giải viên và cơ quan tư pháp địa phương tập trung phản ánh những vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hòa giải.
Hòa giải viên Phạm Hoàng Thành Nam, Trưởng khu phố Thạnh Đông, phường Bình Minh, tỉnh Tây Ninh, nêu trường hợp một bên tranh chấp không chịu gặp mặt hoặc không xuất hiện để tham gia hòa giải. Theo ông, cần có hướng dẫn cụ thể để hòa giải viên biết cách xử lý những tình huống này. Ông Nam cũng đề nghị đưa những người có kiến thức pháp luật vào tổ hòa giải để hỗ trợ giải quyết các tranh chấp phù hợp, đúng quy định.




Các đại biểu nêu ý kiến thực tiễn (ảnh: Khánh Toàn)
Bà Dương Thùy Hương, thuộc Tổ hòa giải Dương Minh Châu, cho rằng hòa giải viên còn đối mặt với nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Dù Luật mới đã có quy định, một số nội dung vẫn còn chung chung, cần được cụ thể hóa trong Nghị định, nhất là về rủi ro và chính sách hỗ trợ hòa giải viên.
Từ góc độ cơ quan tư pháp địa phương, ông Lý Hồng Huấn, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Tây Ninh, cho biết địa phương cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị định. Tuy nhiên, ông đề nghị tiếp tục làm rõ quy trình bầu, chỉ định và công nhận hòa giải viên.
Đáng chú ý, đối với vùng nông thôn, vùng biên giới và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, việc biểu quyết trực tuyến có thể chưa phù hợp do hạ tầng số, khả năng tiếp cận thiết bị và kỹ năng số của người dân không đồng đều.
Do đó, đại diện Sở Tư pháp Tây Ninh đề nghị biểu quyết trực tuyến nên là một phương thức được lựa chọn khi đáp ứng điều kiện thực tế; đồng thời giao địa phương quyết định phương thức phù hợp, tránh phát sinh thêm thủ tục hoặc yêu cầu kỹ thuật.




Đại diện các cơ quan tư pháp đóng góp ý kiến, đề xuất tại hội thảo (ảnh: Khánh Toàn)
Kinh phí và chế độ thù lao cho hòa giải viên cũng được nhiều đại biểu quan tâm. Các ý kiến cho rằng để hoạt động hòa giải ổn định, cần bảo đảm nguồn lực tương xứng, trong đó nên nghiên cứu mức chi hoặc khung mức chi đủ rõ để địa phương có cơ sở lập dự toán.
Đồng thời, cần làm rõ cơ chế trong trường hợp ngân sách cấp xã gặp khó khăn, không cân đối được nguồn kinh phí. Nếu chỉ quy định chung rằng ngân sách nhà nước bảo đảm nhưng không xác định rõ trách nhiệm bố trí nguồn, khi triển khai có thể phát sinh tình trạng thiếu kinh phí hoặc chậm thanh toán.
Một vấn đề khác được nhiều đại biểu quan tâm là hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn, rủi ro, nhất là trường hợp tai nạn xảy ra trên đường đi đến hoặc trở về từ địa điểm hòa giải.

Các đại biểu trao đổi bên lề hội nghị (ảnh: Khánh Toàn)
Các đại biểu cũng đề nghị rà soát hồ sơ tại Điều 29 theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường sử dụng dữ liệu điện tử, tránh yêu cầu người bị tai nạn hoặc thân nhân phải cung cấp quá nhiều giấy tờ trong hoàn cảnh khó khăn.
Những kiến nghị này cho thấy yêu cầu quan trọng đối với Nghị định là phải cụ thể, khả thi, giải quyết được những tình huống phát sinh trong thực tế nhưng không biến hoạt động hòa giải thành một quy trình hành chính nặng nề.
Không hành chính hóa hoạt động hòa giải
Theo bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp), trong 11 ý kiến được đưa ra tại hội thảo, nhiều nội dung đã được Tổ soạn thảo nghiên cứu. Tuy nhiên, các địa phương vẫn cần tiếp tục góp ý, nhất là đối với những điểm tiến bộ của Luật năm 2026.

Bà Ngô Quỳnh Hoa - Phó Cục trưởng Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) phát biểu (ảnh: Khánh Toàn)
Trong đó có bảo mật thông tin trong hòa giải; tiêu chí lựa chọn hòa giải viên theo hướng mở rộng nhưng chặt chẽ; phương thức bầu linh hoạt; bảo đảm an toàn cho các bên; phát huy vai trò của người được mời tham gia hòa giải; tạo cơ sở pháp lý rõ hơn cho kết quả hòa giải thành và bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải.
Phát biểu tại hội thảo, bà Trần Thị Thanh Lam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Tổ soạn thảo.
Từ góc độ cơ quan chủ trì thẩm tra Luật, bà Lam đề nghị Nghị định phải bảo đảm đúng tinh thần của Luật nhưng đồng thời phải thực sự là văn bản để tổ chức thực hiện, không làm phát sinh một cơ chế mới hoặc hành chính hóa hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Bà Trần Thị Thanh Lam - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đánh giá cao tinh thần chủ động của các cơ quan trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định (ảnh: Khánh Toàn)
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc cho rằng một số vụ việc hòa giải không thành do hòa giải viên chưa nắm rõ hoặc hiểu chưa đúng pháp luật. Vì vậy, bên cạnh hoàn thiện hành lang pháp lý, cần nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý những vụ việc nhỏ, lẻ ngay từ cơ sở, tránh để mâu thuẫn diễn biến phức tạp, kéo dài.
Theo Thứ trưởng, những hành vi nhỏ nếu không được can thiệp kịp thời bằng phương pháp phù hợp có thể dẫn đến hậu quả lớn. Vì vậy, hòa giải không chỉ nhằm giải quyết tranh chấp đã phát sinh mà còn góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật từ sớm.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc phát biểu kết luận (ảnh: Khánh Toàn)
Về nguyên tắc xây dựng Nghị định, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc nhấn mạnh nội dung nào Luật giao thì Nghị định phải quy định để tổ chức thực hiện; những nội dung Luật không giao thì không đưa thêm vào.
Đối với 11 ý kiến được các đại biểu nêu tại hội thảo, Thứ trưởng khẳng định cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tổng hợp, tiếp thu, nghiên cứu cụ thể; đồng thời phân loại các vấn đề và rà soát những nội dung có thể phát sinh từ thực tiễn để tiếp tục xử lý, bảo đảm đúng quy trình, quy định pháp luật.

