Hoàn thiện quy định về dân chủ ở cơ sở, đẩy mạnh liên kết vùng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, ngày 30-10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về nhiều nội dung quan trọng, trong đó có: dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi); tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025; việc tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội và kết thúc đầu tư xây dựng dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.

Bảo đảm quyền tham gia ý kiến, tính tự nguyện và công khai thông tin ở cơ sở

Góp ý dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Lý Thị Lan nêu ba vấn đề.

ĐBQH Lý Thị Lan phát biểu thảo luận.

ĐBQH Lý Thị Lan phát biểu thảo luận.

Thứ nhất, về nội dung Nhân dân tham gia ý kiến tại khoản 2 Điều 17. Theo đại biểu, khoản 2 mới chỉ nêu “quy hoạch sử dụng đất” mà chưa đề cập kế hoạch sử dụng đất. Khi khoản 2 đã tách riêng lĩnh vực đất đai, việc chỉ nêu quy hoạch có thể dẫn đến cách hiểu kế hoạch sử dụng đất không phải nội dung bắt buộc lấy ý kiến theo Luật này.

Đại biểu cho biết, Điều 70 Luật Đất đai năm 2024 quy định lấy ý kiến Nhân dân đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện; dự thảo Luật Đất đai đang được Quốc hội xem xét tiếp tục thiết kế kế hoạch sử dụng đất cấp xã trong thời kỳ 5 năm. Kế hoạch này xác định chỉ tiêu, diện tích, khu vực khoanh vùng, ranh giới và vị trí khu dân cư, có thể liên quan trực tiếp đến đất ở, đất sản xuất và sinh kế của người dân. Việc Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua là hình thức dân chủ đại diện, không thể thay thế việc người dân, nhất là những người trực tiếp chịu tác động, được tham gia ý kiến trước khi kế hoạch được quyết định, phê duyệt.

Từ thực tiễn các xã vùng cao, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, nếu chỉ niêm yết bản đồ, hồ sơ kỹ thuật tại trụ sở thì người dân khó xác định khu đất, diện tích và quyền lợi bị tác động. Do đó, việc lấy ý kiến cần đi kèm giải thích trực tiếp, cung cấp thông tin dễ hiểu và lựa chọn hình thức phù hợp với từng khu dân cư. Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 2 Điều 17 theo hướng bổ sung: dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phương án điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc quản lý, sử dụng quỹ đất được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Hình thức, trình tự, thời hạn lấy ý kiến và công khai kết quả tiếp thu, giải trình thực hiện theo Điều 18, Điều 19 của Luật này và pháp luật về đất đai, để không phát sinh thủ tục trùng lặp.

Thứ hai, về nghĩa vụ chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư tại khoản 2 Điều 6, liên quan Điều 13 và Điều 15. Đại biểu cho rằng, báo cáo giải trình xác định đây là nội dung về chủ trương vận động đóng góp, nhưng dự thảo chưa làm rõ quyết định được hai phần ba đại diện hộ gia đình tán thành có làm phát sinh nghĩa vụ bắt buộc đối với hộ không đồng ý hay không.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát điểm a khoản 1 Điều 13, cân nhắc dùng cụm từ “mức vận động đóng góp” thay cho “mức đóng góp”; đồng thời bổ sung vào Điều 15 nguyên tắc: quyết định của cộng đồng dân cư về chủ trương và mức vận động đóng góp không làm phát sinh nghĩa vụ đóng góp bắt buộc đối với hộ gia đình, cá nhân ngoài nghĩa vụ do pháp luật quy định.

Thứ ba, về công khai thông tin chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã tại khoản 3 Điều 10 và Điều 12. Đại biểu cho rằng nhiều dự án do cơ quan cấp trên hoặc chủ đầu tư khác quản lý; nếu thông tin không được cung cấp, cập nhật kịp thời, cấp xã khó thực hiện trách nhiệm công khai, nhất là khi dự án thay đổi tiến độ, phạm vi, phương án bồi thường, hỗ trợ hoặc tái định cư. Thực tế cho thấy, việc sớm công khai phương án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ đã góp phần tạo sự đồng thuận của người dân.

Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 12 quy định: cơ quan quản lý chương trình, dự án, chủ đầu tư và ban quản lý dự án có trách nhiệm cung cấp, cập nhật kịp thời thông tin thuộc diện công khai cho Ủy ban nhân dân cấp xã và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác. Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức công khai bằng hình thức phù hợp, dễ tiếp cận; tiếp nhận, chuyển kiến nghị và thông báo kết quả giải quyết cho người dân...

Đẩy mạnh liên kết vùng, hoàn thiện hạ tầng và điều kiện vận hành trường nội trú

Tham gia thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, từ thực tiễn địa phương, đại biểu nêu hai nội dung.

Nội dung thứ nhất là khai thác không gian phát triển mới, liên kết kinh tế vùng. Đại biểu cho rằng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tiềm năng, lợi thế và sự liên kết giữa các vùng, địa phương; vấn đề cần quan tâm là chuyển lợi thế trong quy hoạch thành các hoạt động kinh tế liên kết, tạo thêm giá trị cho cả vùng.

Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang dự phiên họp ngày 30-10.

Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang dự phiên họp ngày 30-10.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp lớn; các trung tâm công nghiệp, chế biến, dịch vụ tại Thái Nguyên, Phú Thọ; hệ thống di sản, cảnh quan phong phú và nhiều cửa khẩu kết nối thị trường Trung Quốc. Những lợi thế này có thể bổ trợ cho nhau, nhưng nếu từng địa phương khai thác riêng lẻ thì khó hình thành chuỗi sản xuất, dịch vụ và thị trường đủ sức thu hút đầu tư. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Tuyên Quang có thêm điều kiện phát huy thế mạnh về kinh tế rừng, chế biến gỗ, giấy, du lịch và kinh tế cửa khẩu; vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến của tỉnh có thể kết nối với công nghiệp, logistics và thị trường của Phú Thọ, Thái Nguyên, vùng Thủ đô. Về du lịch, Tân Trào có thể kết nối với ATK Định Hóa; Cao nguyên đá Đồng Văn, Na Hang - Lâm Bình liên kết với các điểm đến trong vùng; cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy mở thêm hướng giao thương với thị trường Trung Quốc.

Dù Quy hoạch vùng được điều chỉnh tại Quyết định số 610/QĐ-TTg đã xác định các hành lang kinh tế Bắc - Nam và Đông - Tây, kết nối giao thông vẫn chưa đồng bộ, liên kết giữa vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Vì vậy, cần làm rõ sản phẩm, ngành hàng, dịch vụ có thể liên kết; thế mạnh từng địa phương; vai trò, lợi ích của doanh nghiệp và người dân, từ đó xác định kết nối hạ tầng ưu tiên.

Đại biểu kiến nghị: Một là, Chính phủ chỉ đạo các bộ, địa phương lựa chọn chuỗi liên kết có lợi thế trên từng hành lang; tăng cường kết nối thông tin về vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, nhu cầu thị trường; phát huy vai trò lan tỏa của Thái Nguyên, Phú Thọ đến các địa bàn miền núi, biên giới; đánh giá hiệu quả liên kết qua khả năng tiêu thụ, thu hút đầu tư, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Hai là, ưu tiên hoàn thiện đồng bộ hạ tầng giao thông: nâng cấp cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ lên bốn làn xe hoàn chỉnh; đầu tư đồng bộ cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; thúc đẩy nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư trục Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai; quan tâm các tuyến nối vùng sản xuất, cơ sở chế biến với cao tốc, đầu mối vận tải và cửa khẩu. Việc hình thành trung tâm logistics cần căn cứ nguồn hàng, nhu cầu vận tải và khả năng tham gia của doanh nghiệp.

Nội dung thứ hai là hiệu quả hoạt động và tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại địa bàn khó khăn. Đại biểu cho biết chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được đồng bào các dân tộc đón nhận với niềm vui và sự trân trọng. Trong đợt triển khai 108 trường đầu tiên trên cả nước, nhiều trường đã kịp đón học sinh vào năm học 2026–2027.

Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả lâu dài, điều kiện vận hành phải được chuẩn bị đồng bộ với tiến độ xây dựng. Thông báo số 523/TB-VPCP đã chỉ ra khó khăn về nhân lực quản sinh, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng, giáo vụ. Trường nội trú liên cấp vừa dạy học, vừa nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý học sinh ngoài giờ ở nhiều lứa tuổi nên cần mô hình tổ chức, đội ngũ và kinh phí phù hợp.

Đại biểu đề nghị Chính phủ sớm chỉ đạo đánh giá thực tiễn hoạt động của các trường đã đưa vào sử dụng, nhất là về đội ngũ giáo viên, nhân viên, chất lượng học tập, sức khỏe, khả năng thích nghi và duy trì sĩ số học sinh; qua đó rút kinh nghiệm, hoàn thiện phương án tổ chức và điều kiện vận hành đối với các trường đang triển khai giai đoạn hai, bảo đảm hoạt động ổn định ngay khi đưa vào sử dụng.

Đồng thời, cần nghiên cứu tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại những xã nội địa đặc biệt khó khăn, nơi tuy không giáp biên giới nhưng địa hình chia cắt, dân cư phân tán, đường đến trường xa, nhu cầu học nội trú, bán trú rất lớn. Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt mục tiêu hoàn thành mạng lưới trường phổ thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030. Do đó, đại biểu đề nghị giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp địa phương khảo sát, lựa chọn xã nội địa thực sự có nhu cầu, xác định quy mô, lộ trình đầu tư phù hợp; việc mở rộng cần dựa trên kết quả đánh giá mô hình tại các xã biên giới, đồng thời tính toán đầy đủ chính sách đối với học sinh, đội ngũ giáo viên, nhân viên và kinh phí vận hành lâu dài...

Tin, ảnh: PV

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/thoi-su-chinh-tri/tin-trong-tinh/202610/hoan-thien-quy-dinh-ve-dan-chu-o-co-so-day-manh-lien-ket-vung-d207603/