Hoàn thiện thể chế, nâng tầm dữ liệu pháp luật
Sau một thập kỷ triển khai, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (CSDLQGVPL) đã từng bước khẳng định vai trò là nền tảng trung tâm trong quản lý, tra cứu và tổ chức thực thi pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của quá trình chuyển đổi số quốc gia, hệ thống cũng bộc lộ những hạn chế về hạ tầng, cơ chế vận hành và nguồn lực.
Phát triển cả về quy mô và chất lượng
Một trong những dấu ấn nổi bật của CSDLQGVPL trong suốt 10 năm qua là sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng dữ liệu. Từ một hệ thống ban đầu còn nhiều hạn chế, CSDLQGVPL đã từng bước trở thành nguồn dữ liệu pháp lý chính thống, đầy đủ và thống nhất trong phạm vi cả nước, phục vụ hàng triệu lượt tra cứu mỗi năm. Toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa theo cùng một cấu trúc, bảo đảm tính chính xác, đồng bộ và thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng trong thực tiễn.

Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2025 của Chính phủ về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Theo Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp), CSDLQGVPL đã từng bước hình thành nền tảng dữ liệu pháp lý thống nhất của quốc gia, góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý bằng pháp luật.
Không chỉ dừng lại ở quy mô, CSDLQGVPL còn cho thấy hiệu quả rõ nét trong tổ chức vận hành và duy trì kỷ cương cập nhật dữ liệu. Tỷ lệ văn bản được cập nhật đúng thời hạn của các bộ, ngành, địa phương hiện đạt trên 90%, trong đó, nhiều đơn vị duy trì tỷ lệ gần như tuyệt đối. Việc rà soát, công bố danh mục văn bản hết hiệu lực hoặc ngưng hiệu lực được thực hiện thường xuyên, góp phần bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong khai thác và vận hành CSDLQGVPL đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều bộ, ngành và địa phương như Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế đã chủ động phát triển các công cụ tra cứu tích hợp (meta-search), cho phép người dùng tìm kiếm văn bản của cả trung ương và địa phương trên cùng một nền tảng, qua đó nâng cao đáng kể hiệu quả tiếp cận thông tin pháp luật.
Đặc biệt, hệ thống dữ liệu pháp luật trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng đã đáp ứng kịp thời yêu cầu nghiên cứu, áp dụng pháp luật trong toàn quân, hình thành kho dữ liệu số tập trung, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ huy.
Còn hạn chế về hạ tầng và phương thức vận hành
Theo đánh giá của các đại biểu, một trong những rào cản lớn nhất hiện nay xuất phát từ chính nền tảng công nghệ. Sau hơn 10 năm vận hành, hệ thống CSDLQGVPL dựa trên công nghệ web truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về tốc độ, khả năng tích hợp và khai thác dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ. Việc duy trì mô hình công nghệ cũ khiến hoạt động quản lý, cập nhật và đối soát dữ liệu vẫn phải thực hiện theo phương thức thủ công, tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực.
Bên cạnh đó, một số quy định của Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã bộc lộ sự không còn phù hợp với thực tiễn quản lý hiện nay, nhất là trong bối cảnh thẩm quyền ban hành văn bản có nhiều thay đổi. Đơn cử như phạm vi dữ liệu hiện mới tập trung chủ yếu vào văn bản quy phạm pháp luật, trong khi nhiều loại văn bản hành chính, vốn được sử dụng thường xuyên trong điều hành, quản lý, lại chưa được đưa vào hệ thống, làm hạn chế đáng kể giá trị sử dụng của cơ sở dữ liệu.

Tra cứu, tìm hiểu văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu pháp luật về quân sự, quốc phòng. Ảnh: Ngọc Hà
Một khó khăn lớn khác được nhiều đại biểu đề cập là về nguồn lực. Thực tế cho thấy, phần lớn các bộ, ngành và địa phương hiện chưa bố trí được đội ngũ cán bộ chuyên trách cho công tác quản lý, vận hành CSDLQGVPL. Trong khi đó, kinh phí dành cho nâng cấp hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế, chưa tương xứng với vai trò và quy mô của một cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu.
Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại và đưa CSDLQGVPL bước sang giai đoạn phát triển mới, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của hệ thống trong tổng thể tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, CSDLQGVPL không chỉ đơn thuần là một kho lưu trữ thông tin pháp luật, mà cần được xác định là công cụ nền tảng phục vụ đổi mới hoạt động xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, gắn với định hướng phát triển khoa học công nghệ.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra là rà soát, sửa đổi Nghị định 52 nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, linh hoạt hơn cho việc vận hành CSDLQGVPL trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, mở rộng phạm vi dữ liệu, không chỉ giới hạn ở văn bản quy phạm pháp luật mà bao gồm cả điều ước quốc tế, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các loại văn bản phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý, điều hành.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc hiện đại hóa hạ tầng công nghệ được xác định là yêu cầu mang tính then chốt. Do đó, cần tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ mới, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm hỗ trợ tự động hóa quy trình phân loại, kiểm tra và rà soát văn bản. Đây được xem là hướng đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, giảm tải áp lực thủ công, nâng cao chất lượng khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.
Bên cạnh yếu tố công nghệ, vấn đề nguồn lực tiếp tục được xác định là điều kiện tiên quyết cho sự vận hành bền vững của hệ thống. Do đó, cần có cơ chế bảo đảm kinh phí ổn định, phù hợp cho công tác cập nhật, duy trì và phát triển CSDLQGVPL. Cùng với đó, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong quản trị dữ liệu pháp luật.
Đặc biệt, việc đẩy mạnh kết nối, liên thông giữa CSDLQGVPL với các hệ thống thông tin của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương được xác định là hướng đi tất yếu, góp phần hình thành một hệ sinh thái dữ liệu pháp lý thống nhất, thông suốt và tin cậy.











