Hoàng giáp hai lần đỗ đầu, được vua Tự Đức ban tên

Hai lần đứng đầu các khoa thi lớn của triều Nguyễn, từ Giải nguyên đến Hội nguyên, Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn không chỉ nổi danh về học vấn mà còn được vua Tự Đức đặc biệt yêu mến, ban tên và trọng dụng.

Ban thờ nhà khoa bảng Lê Khắc Cẩn. Ảnh: ITN.

Ban thờ nhà khoa bảng Lê Khắc Cẩn. Ảnh: ITN.

Lê Khắc Cẩn (tên gọi khác là Lê Khắc Nghị) quê ở làng Hạnh Thị, tổng Đại Phương Lang (nay là làng Đông Hạnh, xã An Hưng, thành phố Hải Phòng). Ông sinh năm Quý Tỵ (1833) trong một gia đình nhà nho, thân phụ là cụ Tường Vân làm nghề dạy học, sau làm nghề thuốc, thân mẫu là cụ Đoàn Thị.

Hai lần đỗ đầu

Theo các sử liệu và gia phả dòng họ, ngay từ thuở nhỏ, Lê Khắc Cẩn đã nổi tiếng là người thông minh, hiếu học. Ông thường phụ giúp thân phụ trong việc biên chép sổ sách, nhờ đó sớm rèn luyện khả năng chữ nghĩa và tư duy. Với bản tính ham học hỏi, ông luôn chuyên tâm đọc sách, nhiều khi mải mê đến mức quên ăn quên ngủ; mỗi khi đọc đều nghiền ngẫm thấu đáo, hiểu cho đến tận cùng ý nghĩa mới thôi. Chính sự cần mẫn và say mê ấy đã khiến văn tài của ông sớm vang danh trong vùng.

Trong các kỳ khảo khóa, phúc hạch ở cấp huyện và cấp tỉnh, Lê Khắc Cẩn đều đạt thành tích xuất sắc, nhiều lần đứng đầu bảng. Đến kỳ thi Hương khoa Ất Mão (1855), ông tham gia ứng thí và đỗ Giải nguyên tại trường thi Nam Định, chính thức khẳng định tài năng khoa bảng của mình.

Bảy năm sau, tại kỳ thi Hội khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ 15 (1862), tổ chức ở kinh đô Huế, Lê Khắc Cẩn tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Hội. Khi vào thi Đình, ông được vua ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Trước đó, ông đã đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương; nay lại đỗ Hội nguyên kỳ thi Hội, vì vậy đương thời thường gọi ông là “Song nguyên Hoàng giáp”, chính thức ghi tên vào hàng ngũ trí thức tinh hoa của triều đình nhà Nguyễn.

Một số nguồn tư liệu địa phương cho biết, do đỗ đạt cao khi tuổi đời còn rất trẻ, Lê Khắc Cẩn được vua Tự Đức đặc biệt yêu mến và cho đổi tên từ Lê Khắc Nghị thành Lê Khắc Cẩn. Đồng thời, ông được giữ lại kinh đô, làm việc tại những cơ quan trực tiếp hầu cận nhà vua như Viện Tập hiền và Tòa Kinh diên, đảm nhiệm công việc biên soạn và giảng luận kinh điển.

Năm 1866, Lê Khắc Cẩn được bổ nhiệm giữ chức Tham biện Nội các tại triều đình Huế. Trong những năm sau đó, ông được triều đình điều ra Bắc, lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại tỉnh Nam Định như Tri phủ Xuân Trường, Án sát, Bố chính, trực tiếp tham gia công tác điều hành, quản lý địa phương trong bối cảnh đất nước đang trải qua nhiều biến động lớn.

Lê Khắc Cẩn sống và làm quan trong nửa sau thế kỷ 19 - một giai đoạn lịch sử đặc biệt cam go, khi triều đình nhà Nguyễn phải đối diện với cuộc xâm lược ngày càng mở rộng của thực dân Pháp. Bối cảnh lịch sử đầy biến động ấy đã tác động sâu sắc đến tư tưởng và lập trường chính trị của tầng lớp sĩ phu đương thời, trong đó có Lê Khắc Cẩn.

 Di tích đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn. Ảnh: ITN.

Di tích đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn. Ảnh: ITN.

Tiếng nói kẻ sĩ giữa cơn sóng nghị hòa

Qua các trước tác còn lại, giới nghiên cứu có cơ sở khẳng định Lê Khắc Cẩn là một trí thức kiên định đứng về phe chủ chiến, kiên quyết phản đối khuynh hướng thỏa hiệp, đầu hàng trước thực dân Pháp. Lập trường ấy được thể hiện rõ nét qua những vần thơ mang đậm tính thời sự, khi ông viết về sự kiện quân Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ: “Quan văn giương bút dâng thơ đánh/ Cụ lớn cầm quân tính chuyện hòa”.

Những vần thơ tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa sự phê phán sâu sắc đối với thực trạng triều chính đương thời, đồng thời bộc lộ nỗi đau xót, sự day dứt và cảm giác bất lực của một kẻ sĩ yêu nước trước vận mệnh đầy nghiệt ngã của dân tộc.

Trong những trang viết bàn về thời cuộc, Lê Khắc Cẩn không chỉ thể hiện tài năng văn chương mà còn bộc lộ tầm nhìn và tư duy chính trị sắc sảo. Ông sớm nhận diện rõ âm mưu xâm lược thâm độc của thực dân Pháp, đồng thời khẳng định nghị hòa không thể là quốc sách, cho rằng cần phải “vì dân xử trí giặc Tây cuồng”.

Với kho tàng thơ văn để lại, Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn đã có những đóng góp quan trọng vào kho tàng văn hiến của dân tộc, đặc biệt trong dòng thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19. Thông qua các tác phẩm của ông, hậu thế không chỉ được thưởng thức văn chương của một bậc cự nho, mà còn có thể nhận diện rõ nét diện mạo của một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước.

Trước những biến động lớn của thời cuộc, dù không trực tiếp cầm vũ khí chống giặc xâm lược, nhưng các áng thơ văn của Lê Khắc Cẩn vẫn mang ý nghĩa to lớn trong việc cổ vũ tinh thần yêu nước, khích lệ các phong trào đấu tranh của quân và dân ta trong thời kỳ đầu chống thực dân Pháp. Bằng ngòi bút sắc bén và tư tưởng kiên định, thơ văn của Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn trở thành một thứ “vũ khí tinh thần” có sức công phá mạnh mẽ đối với chế độ thực dân xâm lược, tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với các cuộc đấu tranh của dân tộc.

 Kỳ thi Hương khoa Ất Mão (1855), Lê Khắc Cẩn đỗ Giải nguyên tại trường thi Nam Định. Ảnh: ITN.

Kỳ thi Hương khoa Ất Mão (1855), Lê Khắc Cẩn đỗ Giải nguyên tại trường thi Nam Định. Ảnh: ITN.

Chính bởi lập trường chính trị kiên định và nhân cách kẻ sĩ như vậy, Lê Khắc Cẩn đã tạo dựng được uy tín lớn trong giới sĩ phu và nhân dân Nam Định đương thời. Điều này được thể hiện rõ qua sự kiện năm 1862, trước sức ép quân sự của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn buộc phải ký hòa ước, cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, gây nên làn sóng phản ứng mạnh mẽ trong xã hội.

Trước sự kiện đó, tại khoa thi Hương năm 1864 ở Nam Định, đông đảo sĩ tử hò reo phản đối và không chịu vào trường thi. Trong bối cảnh ấy, Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn đã đứng ra, thay mặt sĩ tử địa phương, soạn thảo và dâng sớ lên triều đình, trình bày nguyện vọng và đề đạt ý kiến, yêu cầu triều đình có một sự “quyết định” rõ ràng đối với vận mệnh đất nước.

Khi thực dân Pháp mở rộng cuộc xâm lược Nam Kỳ, Lê Khắc Cẩn từng dâng sớ xin được vào Biên Hòa trực tiếp tham gia đánh Pháp, song sau đó vẫn tiếp tục được triều đình giao trọng trách làm quan tại Nam Định. Trong lúc đang đương chức và sự nghiệp quan trường ở vào giai đoạn thăng tiến, Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ.

Theo một số nguồn tư liệu, ông mất năm 1869, hưởng dương 37 tuổi; tuy nhiên, cũng có tài liệu ghi ông mất vào năm 1870, thậm chí 1874, cho thấy vẫn còn những dị bản cần tiếp tục được đối chiếu và làm rõ.

Sau khi qua đời, theo đúng tâm nguyện, phần mộ của Lê Khắc Cẩn được Huấn đạo huyện Nam Trực cùng con cháu an táng tại Mả Cả, thôn Trung, xã Điền Xá, huyện Nam Trực (nay thuộc phường Vị Khê, tỉnh Nam Định). Đồng thời, tại từ đường họ Vũ ở thôn Đỗ Xá cũng có nơi phối thờ Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn, thể hiện mối giao tình tri kỷ giữa ông với Huấn đạo Vũ Trọng Liên.

 Với 2 lần đỗ đầu, Lê Khắc Cẩn được gọi là “Song nguyên Hoàng giáp”, tên tuổi được khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Thánh Miếu Huế. Ảnh: ITN.

Với 2 lần đỗ đầu, Lê Khắc Cẩn được gọi là “Song nguyên Hoàng giáp”, tên tuổi được khắc trên bia Tiến sĩ tại Văn Thánh Miếu Huế. Ảnh: ITN.

Di sản và sự tôn vinh nhà khoa bảng yêu nước

Tuy thời gian sống và làm quan không dài, Lê Khắc Cẩn vẫn kịp để lại một di sản thơ văn đáng kể. Viện Nghiên cứu Hán - Nôm còn lưu giữ nhiều trước tác của ông như: “Hải Hạnh văn phái”, “Hải Hạnh thi tập”, “Hải Hạnh thi tập văn”, “Miễn Trai văn tập”… Một số tác phẩm tiêu biểu đã được tuyển chọn và xuất bản trong “Tuyển tập Thơ văn Lê Khắc Cẩn”, góp phần giới thiệu và khẳng định giá trị di sản văn học của ông đối với hậu thế.

Năm 2003, tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám diễn ra hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Khắc Cẩn, qua đó khẳng định vị trí và những đóng góp của ông trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam.

Nhận định về thơ văn Lê Khắc Cẩn, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh cho rằng tuy số lượng không nhiều và không nổi bật về cách tân nghệ thuật, nhưng thơ ông là một bộ phận văn học bám sát thời sự, phản ánh sinh động tâm trạng, nhân cách và sự phân hóa tư tưởng của tầng lớp sĩ phu trước những lựa chọn chính trị đầy nghiệt ngã. Đặc sắc riêng của thơ Lê Khắc Cẩn nằm ở chất trào phúng, tự trào nhẹ nhàng, vừa mang tính phê phán, vừa có tác dụng an ủi, khích lệ tinh thần con người trong thời cuộc bế tắc, góp phần hình thành dòng thơ trào phúng trong văn học Việt Nam.

Cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy cống hiến của Lê Khắc Cẩn vì thế vẫn tỏa sáng như một biểu tượng của trí tuệ, khí phách và lòng yêu nước của kẻ sĩ Việt Nam trong buổi giao thời đầy thử thách của lịch sử dân tộc.

Tại quê hương thôn Hạnh Thị, con cháu dòng họ Lê từng dựng một ngôi nhà thờ ba gian đơn sơ để phụng thờ Lê Khắc Cẩn ngay trên phần đất của gia đình. Trải qua những biến động của lịch sử, sau năm 1945, ngôi nhà thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn bị xuống cấp và đổ nát.

Đến năm 2008, UBND TP Hải Phòng ban hành quyết định lập dự án đầu tư xây dựng đền thờ Lê Khắc Cẩn tại chính địa điểm thờ tự cũ. Ngày 12/3/2024, theo Quyết định số 606/QĐ-BVHTTDL của Bộ VH,TT&DL, đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn chính thức được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia.

Theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn được xây dựng theo hướng chính Đông, gồm các hạng mục công trình: đền thờ chính, tả – hữu giải vũ, nhà bia, tam quan, lầu bát giác… trên tổng diện tích 11.514m2.

Đền thờ được thiết kế mô phỏng kiến trúc thời Nguyễn, trong đó đền chính có bình đồ kiến trúc kiểu chữ Đinh truyền thống. Không gian kiến trúc được tổ chức mở, với hệ thống hàng cột bao quanh bốn mặt, tạo điều kiện cho việc đi vòng quanh công trình, thể hiện rõ đặc trưng của một thiết chế kiến trúc tưởng niệm, vừa trang nghiêm vừa hài hòa với cảnh quan.

Công trình được xây dựng theo quy thức kiến trúc cổ truyền, gồm hai tầng mái, đao cong, mái lợp ngói vẩy. Tòa tiền đường được thiết kế theo kiểu 5 gian, 2 chái; tòa hậu cung bố cục 3 gian, trong đó hệ vì mái trên và vì mái dưới có kết cấu, hình thức tương đồng với hệ vì của tòa tiền đường, bảo đảm sự thống nhất về phong cách kiến trúc tổng thể.

Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc sử dụng những đề tài truyền thống quen thuộc, như: chạm nổi lá lật, đấu cánh sen, đầu dư chạm rồng, lá rồng cách điệu, cùng các mô típ “long, lân, quy, phụng” và “ngũ phúc” (năm con dơi), thể hiện quan niệm thẩm mỹ và ước vọng cát tường trong kiến trúc tín ngưỡng Việt Nam.

Bên trong đền hiện lưu giữ nhiều hiện vật quý, góp phần làm nên giá trị văn hóa và tín ngưỡng của di tích, tiêu biểu như: long ngai, bài vị Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn; bát bửu, biển rước; nhang án, cùng hệ thống hoành phi, câu đối, cuốn thư. Các hiện vật không chỉ có giá trị thờ tự mà còn phản ánh truyền thống tôn vinh hiền tài, đời sống tín ngưỡng và mỹ thuật trang trí của cư dân địa phương qua các thời kỳ.

Nhằm tưởng nhớ và tôn vinh Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn, con cháu dòng họ Lê tiến hành tạc tượng ông để thờ tại đền. Việc làm này không chỉ thể hiện lòng tri ân sâu sắc của hậu duệ hôm nay đối với bậc tiền nhân, mà còn mang ý nghĩa giáo dục truyền thống, nhắc nhở các thế hệ mai sau luôn ghi nhớ công lao to lớn của nhà khoa bảng yêu nước Lê Khắc Cẩn đối với quê hương, đất nước.

Hằng năm, tại đền thờ Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn, con cháu trong dòng tộc cùng nhân dân địa phương duy trì tổ chức hai kỳ tế lễ truyền thống vào ngày 23/3 và ngày 15/11 âm lịch. Các hoạt động tế lễ được thực hiện trang nghiêm, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, tín ngưỡng của di tích.

Đánh giá cao nhân cách và đóng góp của nhà khoa bảng Lê Khắc Cẩn, cố GS.AHLĐ Vũ Khiêu đã dành cho ông đôi câu đối trang trọng:

“Cuộc phong trần mến nước thương dân

Đất Hạnh Thị còn vương đôi giọt lệ

Lập di cảo lời hay ý đẹp

Trời Hải Phòng thêm sáng một vì sao”.

Trần Siêu

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/hoang-giap-hai-lan-do-dau-duoc-vua-tu-duc-ban-ten-post766944.html