Học bao nhiêu cho đủ với kỳ vọng của 'phụ huynh châu Á'?

Áp lực thành tích học tập từ phụ huynh vốn là câu chuyện không mới tại nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Lý giải hiện tượng này, TS Triệu Thị Phượng (Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. HCM) cho rằng nguyên nhân bắt nguồn từ những yếu tố văn hóa - xã hội đặc thù và tâm lý lo âu của người lớn. Tuy nhiên, ranh giới giữa kỳ vọng và áp lực rất mong manh; nếu thiếu sự định hướng đúng đắn, điều này sẽ để lại nhiều hệ lụy nặng nề đối với tâm lý và sự phát triển toàn diện của con trẻ.

Việc phụ huynh châu Á đặt áp lực lên thành tích đối với con không phải là một hiện tượng mới. Đây là vấn đề đã được đề cập trong nhiều cuộc tranh luận xã hội suốt thời gian dài. TS. Triệu Thị Phượng cho rằng hiện tượng này bắt nguồn từ những bối cảnh văn hóa – xã hội cụ thể của khu vực.

Các quốc gia châu Á vốn sở hữu truyền thống văn hóa lâu đời, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo - nơi đề cao giá trị của học tập, tri thức và lý tưởng về một xã hội học tập. Bên cạnh đó, lối sống văn hóa xã hội tập thể, cộng đồng cũng là một trong những nguyên nhân mà khiến cho phụ huynh sẽ kỳ vọng lên con em mình nhiều hơn, khi mà thành tích cá nhân là thước đo danh dự và vị thế của gia đình.

Thí sinh bật khóc sau khi rời phòng thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Thí sinh bật khóc sau khi rời phòng thi tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Liên hệ với bối cảnh Việt Nam, có thể thấy tư tưởng Nho giáo cùng quan niệm “học để đổi đời” đã ăn sâu vào truyền thống khoa cử từ thời phong kiến. Nền Nho học đã góp phần xây dựng một hệ giá trị trong đó học tập được xem là con đường chủ yếu để thăng tiến và khẳng định vị thế xã hội. Quan niệm này còn được củng cố qua những cách nhìn phổ biến như “con hơn cha là nhà có phúc” hay việc gia đình được xem là vinh hiển khi con cái học hành đỗ đạt, thành danh.

Những quan niệm được truyền lưu qua nhiều thế hệ đã khiến nhiều bậc cha mẹ cảm nhận rõ trách nhiệm trong việc định hướng, thậm chí kiểm soát quá trình học tập của con cái, với mức độ khắt khe hơn so với các xã hội khác. Đáng chú ý, logic này không hề mất đi trong xã hội hiện đại mà tiếp tục tồn tại. Các chuẩn mực như điểm cao, trường chuyên, hay các trường đại học hàng đầu vẫn được xem là thước đo thành công, từ đó tạo ra áp lực đối với phụ huynh trong việc đưa con cái vào những khuôn khổ học tập.

Về bình diện xã hội, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng trên thị trường lao động, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi mỗi cá nhân không ngừng nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng chuyên môn. Trong bối cảnh đó, sự phân tầng xã hội dựa vào giáo dục thể hiện rất rõ đối với mỗi quốc gia. Đặc biệt, tại các quốc gia coi trọng bằng cấp càng thúc đẩy các bậc phụ huynh đặt kỳ vọng thành tích ngày càng lớn lên con em mình.

“Theo quan điểm của tôi, đây không đơn thuần là việc cha mẹ nghiêm khắc với con cái mà còn phản ánh các chiến lược sinh tồn trong hệ thống xã hội cạnh tranh. Điều này cũng sẽ có những mặt tích cực và mặt hạn chế", TS Triệu Thị Phượng chia sẻ.

“Theo quan điểm của tôi, đây không đơn thuần là việc cha mẹ nghiêm khắc với con cái mà còn phản ánh các chiến lược sinh tồn trong hệ thống xã hội cạnh tranh. Điều này cũng sẽ có những mặt tích cực và mặt hạn chế", TS Triệu Thị Phượng chia sẻ.

Yếu tố thứ hai liên quan đến vai trò của giáo dục như một cơ chế quan trọng của sự dịch chuyển xã hội tại Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng trên thị trường lao động, nhiều cơ hội nghề nghiệp tốt thường đi kèm với các yêu cầu khắt khe về bằng cấp, trường đại học danh tiếng hay các chứng chỉ kỹ năng, ngoại ngữ.

Chính vì vậy, sự phân tầng thu nhập và áp lực cạnh tranh nghề nghiệp khiến giáo dục được nhiều gia đình xem như một “bảo hiểm” cho tương lai của con cái. Từ góc độ này, áp lực thành tích cũng phản ánh nỗi lo của phụ huynh về rủi ro xã hội hơn là kiểm soát đơn thuần.

Bên cạnh đó, quy mô gia đình ngày càng thu hẹp, khi nhiều gia đình chỉ có một hoặc hai con, nhiều phụ huynh mang tâm lý không muốn con mình bị thua thiệt so với người khác. Văn hóa cộng đồng mạnh mẽ trong xã hội cũng khiến việc so sánh giữa các gia đình trở nên phổ biến, thể hiện qua những câu chuyện quen thuộc về “con nhà người ta”. Những so sánh như vậy vô tình tạo ra áp lực đáng kể đối với con, đồng thời khiến kỳ vọng của cha mẹ đối với thành tích của con ngày càng cao.

Những tác động tâm lý

Ở góc độ tích cực, khi kỳ vọng của cha mẹ đi kèm với sự gắn kết tình cảm, sự quan tâm, khích lệ và tôn trọng cá nhân có thể trở thành động lực thúc đẩy trẻ rèn luyện tính kỷ luật, khả năng tự quản lý và hình thành động cơ phấn đấu trong học tập.

Tuy nhiên, mặt tiêu cực của áp lực thành tích cũng có thể trở nên đáng lo ngại khi kỳ vọng của cha mẹ mang tính kiểm soát và so sánh. Trong nhiều trường hợp, áp lực học tập thường gắn chặt với điểm số và sự so sánh với “con nhà người ta”, từ đó tạo ra căng thẳng và lo âu học đường đối với trẻ.

Điều này có thể khiến các em hình thành tâm lý sợ thất bại, lo sợ làm cha mẹ thất vọng hoặc bị ám ảnh bởi thành tích. Ở mức độ nghiêm trọng hơn, áp lực kéo dài có thể dẫn đến các rối loạn tâm lý như lo âu, trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên. Thực tế đã ghi nhận những trường hợp đáng tiếc khi một số em không tìm được lối thoát trước áp lực và có những hành vi tiêu cực, thậm chí tự tước đoạt cuộc sống của mình.

“Bên cạnh đó, áp lực thành tích còn có thể khiến trẻ hình thành cảm nhận về giá trị bản thân mang tính điều kiện, tức là chỉ cảm thấy mình có giá trị khi đạt được điểm số hoặc thành tích cao. Cách nhìn nhận này ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tự trọng, khiến các em dễ sợ hãi trước những thử thách mới, né tránh thất bại hoặc rơi vào trạng thái cầu toàn cực đoan.

Ngoài tác động tâm lý, áp lực học tập kéo dài còn ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất. Trong giai đoạn đang phát triển, các em cần có thời gian nghỉ ngơi, giải trí và thư giãn. Khi thiếu các hoạt động cân bằng, căng thẳng có thể gia tăng, tác động tiêu cực đến sức khỏe cũng như quá trình trưởng thành của trẻ.

Một vấn đề khác cũng cần được lưu ý là nguy cơ làm suy giảm tính chủ động và động cơ nội tại. Trong những môi trường mới ít sự giám sát hơn, các em dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng.

Tôi lấy ví dụ khi các bạn đi lên học đại học, đi học xa nhà, các bạn thiếu cái động cơ nội tại của bản thân hoặc thậm chí là các bạn sống buông thả. Khi không có người kiểm soát thì các bạn lại mất đi định hướng và gây ra những tiêu cực về sau.

Điều này cũng làm ảnh hưởng đến mối quan hệ cha mẹ và con cái trong gia đình. Khi mà các tương tác chỉ xoay quanh vấn đề học tập mà thiếu những yếu tố gắn kết về mặt cảm xúc, sự quan tâm. Đó là những vấn đề ảnh hưởng dài lâu đến quá trình trở thành của đứa trẻ.”

Kỳ vọng nhưng đừng tạo áp lực

Theo TS. Triệu Thị Phượng, những trường hợp tiêu cực được xã hội và truyền thông phản ánh trong thời gian qua cũng đang trở thành hồi chuông cảnh báo. Nhiều gia đình bắt đầu nhìn nhận lại cách đặt kỳ vọng đối với con và có xu hướng điều chỉnh cho phù hợp hơn với quá trình phát triển của trẻ.

Trước hết, thay vì áp đặt kỳ vọng một cách tiêu cực, cha mẹ cần chú trọng đến việc động viên và đồng hành cùng con trong quá trình học tập. Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh cũng nên thay đổi tư duy, tránh trường hợp so sánh với con nhà người ta, thậm chí là so sánh với các con trong gia đình với nhau.

Cha mẹ cần chú trọng đến việc động viên và đồng hành cùng con trong quá trình học tập. (Ảnh minh họa: Lê Vượng)

Cha mẹ cần chú trọng đến việc động viên và đồng hành cùng con trong quá trình học tập. (Ảnh minh họa: Lê Vượng)

Sự quan tâm không nên chỉ dừng lại ở điểm số hay kết quả học tập, mà còn cần mở rộng đến đời sống tinh thần của trẻ, như khả năng hòa nhập với môi trường học đường, các mối quan hệ bạn bè, hay sự tương tác giữa thầy và trò.

Những chia sẻ và quan tâm như vậy có thể giúp trẻ cảm nhận được sự thấu hiểu và ủng hộ từ gia đình. Từ đó, các em không chỉ có thêm động lực học tập mà còn hình thành cảm xúc tích cực, góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình gắn bó và bền chặt hơn.

Chia sẻ về quan điểm coi thành tích học tập là thước đo quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, tiến sĩ cho rằng đây là nhận định đúng nhưng chưa đủ. Nếu chỉ nhìn nhận theo hướng đó thì khá hạn hẹp. Thực tế cho thấy tiềm năng của mỗi đứa trẻ có thể được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Có em nổi trội trong học tập và các môn văn hóa, nhưng cũng có em bộc lộ thế mạnh ở những lĩnh vực khác như nghệ thuật, thể thao

“Vì vậy, cha mẹ cần quan sát, đồng hành và tạo điều kiện để con phát huy những năng lực và sở trường riêng. Đấy mới là điều quan trọng tạo nên giá trị cho các em và khiến cho các em sẽ nhận thấy được sự quan tâm của cha mẹ mình là đúng, phù hợp và khuyến khích được các em phát triển những thế mạnh tốt hơn.

Trong bối cảnh cạnh tranh và phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện nay, đầu tư cho giáo dục vẫn là lựa chọn chính đáng của nhiều gia đình. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chỉ biết quan tâm về giáo dục, mà bên cạnh tri thức thì giáo dục kỹ năng sống cho các con và để các con phát huy thế mạnh sở trường của bản thân mới là những điều quan trọng. Qua đó giúp các em phát triển toàn diện không chỉ về tri thức mà các em còn có kỹ năng, văn hóa và sự đa dạng của bản thân. Xã hội thì luôn luôn là ghi nhận sự đa chiều, đa dạng và đa sắc của các em.” – TS. Triệu Thị Phượng nói thêm.

Nguồn SVVN: https://svvn.tienphong.vn/hoc-bao-nhieu-cho-du-voi-ky-vong-cua-phu-huynh-chau-a-post1825388.tpo