Học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới

Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng đạo đức phương pháp phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng định hình phương thức hành động và khơi nguồn động lực tinh thần cho toàn hệ thống chính trị bước vào giai đoạn cách mạng mới.

Hôm nay, Bộ Chính trị Tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng đạo đức phương pháp phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng định hình phương thức hành động và khơi nguồn động lực tinh thần cho toàn hệ thống chính trị bước vào giai đoạn cách mạng mới. Lịch sử đã kiểm nghiệm: mỗi khi cách mạng bước vào một chặng đường mới đảng ta lại trở về với di sản Hồ Chí Minh. Trở về không phải để tìm một lời hiệu triệu mà để tìm một phương pháp hành động và đạt hiệu quả cao nhất.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Theo chương trình Hội nghị, việc quán triệt Chỉ thị số 07 và truyền đạt Chuyên đề toàn khóa được thực hiện lồng ghép trong một nội dung thống nhất. Toàn văn Chỉ thị đã được gửi đến các đồng chí, đề nghị nghiên cứu thật kỹ để tổ chức thực hiện.

Sau đây tôi xin trình bày những nội dung cơ bản của Chỉ thị 07 thông qua Chuyên đề toàn khóa về “Học tập, thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

Chuyên đề toàn khóa được xây dựng trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo chiến lược của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhằm mục tiêu cao nhất là chuyển hóa nhận thức lý luận thành thực tiễn, tạo ra động lực tinh thần nội sinh để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội XIV của Đảng.

Chuyên đề toàn khóa được cấu trúc gồm 3 phần có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau.

Phần thứ nhất: Sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng ta về học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.

Phần thứ hai: Cội nguồn hình thành và những nội dung cốt lõi của tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh giá trị trong giai đoạn phát triển mới.

Phần thứ ba: Yêu cầu đặt ra và các giải pháp đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng về học tập và thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.

Phần thứ nhất: Sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng về học tập và thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.

Ngày 13/5/2026, đồng chí Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới thay thế cho Chỉ thị 05-CT/TW và kết luận số 01-KL/TW năm 2021.

Vì sao phải thay thế chỉ thị 05? Có bốn căn cứ. Thứ nhất, thế giới và khu vực biến động rất nhanh khó lường; mặt trận tư tưởng mở rộng sang không gian mạng với những phương thức chống phá hoàn toàn mới. Thứ hai, đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới sau Đại hội XIV với mục tiêu tăng trưởng hai con số và hai mục tiêu chiến lược đòi hỏi một cách học và một cách làm khác trước. Thứ ba, qua 10 năm thực hiện Chỉ thị 05, bên cạnh những kết quả rất quan trọng phải thẳng thắn thừa nhận: bệnh hình thức vẫn là căn bệnh lớn nhất - học nhiều mà chuyển biến ít, đăng ký nhiều mà sản phẩm ít, sơ kết tổng kết đều đặn nhưng việc khó của dân cần được giải quyết cho dân vẫn còn một số việc chưa giải quyết được. Thứ tư, từ đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ học tập và làm theo sang học tập và thực hành.

Có thể tóm lại bằng một mệnh đề: Nếu Chỉ thị 05 trả lời câu hỏi “học gì và làm thế nào” thì Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị yêu cầu trả lời câu hỏi “thực hành để tạo ra kết quả gì và đo bằng cách nào cho kết quả đó”.

Chuyên đề toàn khóa đã khẳng định: từ khi Đảng ta ra đời đến nay, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận hợp thành trong tổ chức hoạt động của Đảng, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng phong phú của dân tộc. Từ yêu cầu kế thừa di sản tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đổi mới tư duy tại Đại hội VI; đến khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng tại Đại hội VII; làm rõ nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại hội IX và Đại hội XI cho đến các Chỉ thị số 23, 06, 03 và Chỉ thị số 05 năm 2016, Kết luận số 01 năm 2021 và nay là Chỉ thị 07 - nhận thức của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn về tầm vóc, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn suốt mạch phát triển ấy thấy rõ một logic: từ “nghiên cứu, giáo dục” đến “học tập và làm theo”, và hôm nay là “học tập và thực hành” - mỗi bước chuyển đều đưa di sản của Bác đến gần hơn với công việc hàng ngày của mỗi cán bộ đảng viên và nhân dân.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Chuyên đề toàn khóa nhấn mạnh điểm mới nổi bật trong Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị là sự bổ sung thành tố “phương pháp Hồ Chí Minh”. Đây không đơn thuần là thêm một thành tố mà là bắc thêm một nhịp cầu - nhịp cầu nối từ nhận thức sang hành động, từ đạo đức sang hiệu quả công việc. Trong di sản Hồ Chí Minh, bốn thành tố không tồn tại biệt lập mà là một chỉnh thể vẹn toàn, thống nhất biện chứng, xuyên thấm lẫn nhau, tạo nên hệ giá trị cốt lõi và phương thức hành động mẫu mực của người cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam.

Tư tưởng là kim chỉ nam định hướng cho đạo đức, phương pháp và phong cách. Đạo đức là gốc dễ, là nền tảng tinh thần vững chắc để giữ vững định hướng tư tưởng. Phương pháp là cách thức, là công cụ khoa học để hiện thực hóa tư tưởng đạo đức và đời sống. Phong cách là biểu hiện sinh động, ổn định, kết tinh toàn bộ tư tưởng, đạo đức, phương pháp của người cán bộ đảng viên trong thực tiến hàng ngày. Nói cách khác: tư tưởng xoay đường, đạo đức giữ gốc, phương pháp mở đối phong cách nêu gương. Do đó, việc học tập và thực hành đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ đảng viên phải tiến hành đồng bộ toàn diện có hệ thống, kiên quyết khắc phục khuynh hướng phiến diện, xem nhẹ bất kỳ thành tố nào hoặc tách rời nhận thức lý luận với hành động thực tiễn.

Mục tiêu chiến lược mà Bộ Chính trị xác định rõ trong Chỉ thị 07 là khi bước vào giai đoạn phát triển mới phải tạo được bước chuyển căn bản, mạnh mẽ từ “tư duy làm theo” sang “hành động thực hành” đi vào chiều sâu thực chất; loại bỏ triệt để bệnh hình thức, nói không đi đôi với làm, xu hướng giáo điều, sáo rỗng; xác lập tư duy hành động mới: từ học điều đúng sang học cách làm đúng, từ noi gương sang vận dụng và phát triển sáng tạo.

Từ học điều đúng sang học cách làm đúng: không dừng lại ở việc thuộc lòng các luận điểm, lý thuyết mà phải thấu triệt phương pháp luận khoa học của Bác để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiện, phức tạp đang đặt ra.

Từ noi gương sang vận dụng và phát triển sáng tạo: Đó là không dập khuôn máy móc, không giáo điều mà kế thừa, vận dụng linh hoạt, bài học của Bác vào đặc thù của từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh vực, từng cơ quan, đơn vị nhằm khơi thông các nguồn lực nội sinh trong kỷ nguyên mới.

Cội nguồn hình thành và những nội dung cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; giá trị thực tiễn trong giai đoạn phát triển mới

Phần thứ hai: Cội nguồn hình thành và những nội dung cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; giá trị thực tiễn trong giai đoạn phát triển mới.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Chuyên đề toàn khóa làm rõ cội nguồn hình thành những nội dung cốt lõi và giá trị của di sản Hồ Chí Minh theo một cách tiếp cận mới, hệ thống biện chứng và có tính ứng dụng thực tiễn cao.

Trước hết về cội nguồn hình thành di sản Hồ Chí Minh. Tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh không hình thành từ hư vô, càng không phải là sự vay mượn. Đó là sự kết tinh của 3 mạch nguồn lớn: chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam; tinh hoa văn hóa nhân loại cả phương đông và phương tây; và trên hết là chủ nghĩa Mác-Lênin - hạt nhân thế giới quan và phương pháp luận khoa học giữ vai trò quyết định tới bản chất cách mạng khoa học của toàn bộ di sản ấy. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cái quyết định; các giá trị truyền thống là cái nuôi dưỡng; thiên tài Hồ Chí Minh là chỗ đã kế thừa, vận dụng, phát triển, sáng tạo trên lập trường cách mạng làm cho tất cả thành một chỉnh thể Việt Nam và mang cốt cách Việt Nam.

Trong mạch nguồn phương Đông, Người đã tiếp thu có phê phán và chuyển hóa sáng tạo những giá trị nhân bản của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo - những học thuyết đã thấm sâu vào tâm thức, phong tục, lối sống của người Việt qua nhiều thế kỷ.

Từ Nho giáo, người kế thừa tinh thần, đề cao tu dưỡng bản thân, coi trọng học hành, trọng nghĩa khinh tài, trách nhiệm với xã hội và triết lý “dân là gốc”. Nhưng Người không tiếp thu một cách nguyên si mà lật ngược thang giá trị của nó theo tinh thần cách mạng từ “ trung với vua” thành “trung với nước”; từ “hiếu” trong phạm vi gia tộc thành “hiếu với dân”; từ chỗ “coi dân là đối tượng được bề trên ban ơn thành nguyên lý “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Những phạm trù quen thuộc của Nho giáo học như cần, kiệm, liêm, chính được Người đề cập với nội hàm hoàn toàn mới. Nội hàm đạo đức cách mạng, mang bản chất cách mạng gắn với lao động, phụng sự tổ quốc phục vụ nhân dân. Đồng thời, Người phê phán không khoan nhượng cái bảo thủ, lỗi thời trong Nho giáo: tư tưởng đẳng cấp, coi khinh lao động chân tay, trọng nam, khinh nữ, thói hư, văn giáo điều, xa rời thật tế.

Từ Phật giáo, Người tiếp thu những tinh hoa tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, khoan dung và nếp sống trong sạch giản dị; nâng lên thành lòng yêu thương con người vô hạn, thành chủ nghĩa nhân văn trong hành động thương dân không dừng ở tấm lòng mà phải hóa thành việc giải phóng dân khỏi áp đức, đói nghèo và dốt nát. Cả cuộc đời của Người chỉ có một ham muốn tuột bậc: Nước được độc lập, dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó là tinh thần cứu khổ được chuyển hóa thành cương lĩnh hành động của cách mạng Việt Nam.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Từ Đạo giáo, Người gạn lấy tư tưởng sống thuận lẽ tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, quý sự giản dị, thanh cao, biết đủ, không màng danh lợi, không chuộng phô trương, cùng sự uyển chuyển, mềm dẻo trong ứng xử, lấy cái bất biến để ứng với cái vạn biến. Mạch nguồn ấy đã góp phần làm nên phong cách sinh hoạt thanh cao và phương pháp ứng biến linh hoạt, thâm trầm và sắc xảo của Người trong những thời khắc hiểm nghèo nhất của cách mạng.

Cùng với đó, Người tiếp thu tinh thần “tự do, bình đẳng, bắc ái” của cuộc cách mạng dân chủ tư sản và lòng nhân ái trong giáo lý Thiên Chúa giáo. Người từng nói đại ý: học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân; tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc, biện chứng, khoa học thực tiễn. Và Người cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Một câu nói giản dị mà chứa đựng cả một thái độ văn hóa lớn của dân tộc.

Thái độ ấy là gạt đục khơi trong, giữ cái tinh, bỏ cái thô, giữ cái nhân bản bỏ cái đẳng cấp, giữ cái phương pháp, bỏ cái giáo điều; là tiếp biến chứ không phải sao chép, làm giàu chứ không hòa tan. Chính thái độ văn hóa ấy - chứ không riêng từng luận điểm cụ thể mới là bài học lớn nhất cho hôm nay của chúng ta. Khi đất nước hội nhập sâu rộng, khi các dòng chảy tư tưởng văn hóa đan xen, va đập chưa từng có trên cả không gian thực và không gian số. Hiểu rõ cội nguồn ấy, cán bộ đảng viên và nhân dân sẽ càng thêm vững tin học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh chính là trở về với cội rễ văn hóa và bản lĩnh của dân tộc mình.

Thứ hai, về tư tưởng Hồ Chí Minh. Điểm mới căn bản không chỉ đi vào từng lĩnh vực của đời sống xã hội hay từng nhóm đối tượng cụ thể mà tiếp cận tư tưởng của Bác theo một cấu trúc logic, khoa học chỉnh thể và xuyên suất về con đường cách mạng Việt Nam. Mạch tư duy được định hình nhất quán: từ mục tiêu của cách mạng đến nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Vai trò của lực lượng cách mạng, lực lượng lãnh đạo, tổ chức thực hiện đến phát huy sức mạnh của toàn thể lực lượng tham gia cách mạng. Cách tiếp cận này chính là quán triệt quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: học không để biết thêm mà để nhìn đúng, nghĩ sâu, quyết định đúng và hành động hiệu quả. Nắm được cái gốc của lý luận là để định hình tư duy chiến lược, không chệch hướng trước những biến động của thời cuộc và để biến chủ trương của Đảng thành động bộ và kết quả cụ thể.

Thứ ba, về đạo đức Hồ Chí Minh. Việc cụ thể hóa có chuẩn mực đạo đức phải trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đại hội 14, Chỉ thị số 07, hệ thống các quy định của Đảng về chuẩn vực đạo đức cách mạng. Trọng tâm thực thi nghiêm túc quy định số 144 của Bộ Chính trị gắn với xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mới đây nhắc lại lời dạy ấy thành một yêu cầu rất cụ thể đối với cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược: Vị trí càng cao, tác động của quyết định ngày càng lớn thì yêu cầu tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa ngày phải càng cao. Học phải gắn với công việc, với trách nhiệm và kết quả phục vụ nhân dân. Các chuẩn mực ấy phải được cụ thể hóa thành hành động thiết thực, phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên ở mỗi vị trí công tác. Đạo đức không đo bằng lời hứa, mà đo bằng cách người cán bộ sử dụng quyền lực được giao và bằng sự hài lòng của người dân.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Thứ tư, về phương pháp Hồ Chí Minh. Chuyên đề toàn khóa đã chỉ rõ các nội dung căn cốt khoa học của phương pháp Hồ Chí Minh. Điều cần nhấn mạnh là những phương pháp ấy không nằm trong sách vở mà đang được chính đội ngũ lãnh đạo cấp chiến lược của Đảng, Nhà nước đang thực hành hàng ngày.

Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chống triệt để bệnh chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tế. Đó chính là yêu cầu mà đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: nhiệm vụ quyết định hiện nay là tổ chức thực hiện biến chủ trương thành chương trình khả thi, hành động đồng bộ và kết quả cụ thể, làm cho ý chí của Đảng chuyển hóa thành sự phát triển của đất nước và cuộc sống tốt đẹp hơn của Nhân dân.

Phương pháp xác định mục tiêu chiến lược gắn với lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm: Khâu đột phá trong từng thời điểm để xoay chuyển cục diện. Việc Bộ Chính trị chọn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm đột phá hàng đầu tại Nghị quyết số 57 và việc Thủ tướng Chính phủ đã xác định lấy các lĩnh vực này gắn với Đề án 06 làm nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số là sự vận dụng trực tiếp phương pháp ấy của Hồ Chí Minh vào các hoạt động hàng ngày của Đảng và của Chính phủ.

Phương pháp dĩ bất biến ứng vận biến: giải quyết biện chứng mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Những linh hoạt mềm dẻo về phương sách, biện pháp. Trong điều hành đó là tinh thần kiên định mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời chủ động biến khó khăn, thách thức thành cơ hội tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phương pháp tạo lực, lập thế, chủ động nắm bắt và tận dụng thời cơ lịch sử để đưa cách mạng vượt qua thác gềnh. Tinh thần tạo thế, tạo lực, tạo đà trong chỉ đạo điều hành hiện nay; việc chủ động sắp xếp tổ chức, bộ máy vận hành chính quyền địa phương hai cấp để mở ra một không gian phát triển mới đều là biểu hiện sinh động của phương pháp này.

Phương pháp giành thắng lợi từng bước: tích lũy về lượng, tạo nên những bước nhảy vọt về chất. Ngày nay được cụ thể hóa thành kịch bản, lộ trình, chỉ tiêu giao đến từng bộ, ngành, địa phương, theo từng quý, có kiểm đếm tiến độ, không để mục tiêu lớn dừng ở khẩu hiệu.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Phương pháp nêu gương mang tính tiên phong, kết hợp chặt chẽ với vũ khí sắc bén tự phê bình và phê bình để giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh trong đảng. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ Chính trị đã nêu rất rõ yêu cầu này đối với cấp chiến lược: vị trí càng cao, tác động của quyết định càng lớn thì càng yêu cầu phải tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa càng cao.

Phương pháp bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Việc Trung ương tổ chức chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 ngay trong đầu nhiệm kỳ, với yêu cầu cán bộ cấp chiến lược phải có năng lực hành động cao hơn, chính là thực hành phương pháp dùng người của Bác Hồ trong điều kiện mới.

Nói cách khác, nguyên tắc “6 rõ”, cùng với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực thực thi chính là hình thức hiện đại của phương pháp làm việc Hồ Chí Minh. Cấp chiến lược đã chủ động làm trước, làm mẫu, cấp dưới không có lý do gì để chậm trễ. Đây là phần có sức sống thực tiễn trực tiếp nhất với công việc hàng ngày của mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý hôm nay và toàn dân.

Thứ năm, về phong cách Hồ Chí Minh. Đây là sự biểu hiện sinh động nhất của tư tưởng, đạo đức, phương pháp trong thực tế cuộc sống và cũng là nơi vai trò nêu gương, chủ động của cấp chiến lược và cán bộ đảng viên được thể hiện một cách rõ nhất.

Phong cách tư duy độc lập tự chủ, không dập khuôn, luôn đổi mới sáng tạo, bám sát hơi thở của thời đại, thể hiện tư duy nhìn thẳng vào những điểm nghẽn của thể chế để tháo gỡ, dám đặt lại vấn đề, dám quyết định những việc chưa có trong tiền lệ vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Phương cách diễn đạt một cách xúc tích, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, luôn truyền cảm hứng mạnh mẽ đến quần chúng, chính là mệnh đề ngắn gọn trong chỉ đạo thời gian qua – “6 rõ”; “làm việc nào dứt việc đó, làm việc nào ra việc đó, nhìn đúng, nghĩ sâu và quyết định đúng, hành động có hiệu quả” - chính là sự tiếp nối phong cách ấy, nói để cấp dưới hiểu ngay và triển khai làm được ngay và làm có hiệu quả.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Phong cách làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn dựa vào nhân dân, “dân là gốc”, lấy hiệu quả thực tế phục vụ nhân dân làm thước đo cao nhất của Đảng. Thể hiện qua việc lãnh đạo Đảng, Nhà nước trực tiếp xuống công trường, xuống cơ sở họp trực tuyến đến cấp xã, xử lý ngay tại chỗ những vướng mắc của người dân và doanh nghiệp.

Phong cách ứng xử một cách chân thành, nhân văn, khiêm tốn, độ lượng và tinh tế trong mọi mối quan hệ - từ ứng xử trong nội bộ đến hoạt động đối ngoại, giữ vững cốt cách và bản lĩnh của Việt Nam.

Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ngăn nắp, đồng thời quyết liệt, triệt để trong chống lãng phí, xa hoa. Chủ trương chống lãng phí được đặt ngang tầm với chống tham dũng, tiêu cực trong thời gian qua chính là sự kế thừa trực tiếp phong cách sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Điều rút ra là: những phương pháp và phong cách nêu trên đã được cấp chiến lược chủ động thực hành, tạo chuyển động thật trong toàn hệ thống. Học tập và thực hành di sản Hồ Chí Minh hôm nay vì thế không phải là việc riêng của cấp cơ sở mà bắt đầu từ người đứng đầu, từ chính cách của mỗi cấp ủy tổ chức công việc và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.

Từ 4 thành tố nêu trên, Chỉ thị 07 đã xác lập 2 yêu cầu mới đối với cán bộ đảng viên:

Yêu cầu thứ nhất: tính nhất nêu gương không còn là một phẩm chất được khuyến khích mà trở thành một phương thức lãnh đạo bắt buộc, có tiêu chí phân tầng theo chức vụ: chức vụ càng cao, yêu cầu nêu gương càng cụ thể, càng công khai và càng phải chịu trách nhiệm giám sát của tổ chức và của nhân dân.

Yêu cầu thứ hai: thực hành theo Bác là phải gắn chặt với khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, kiên quyết thay thế những cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm. Học tập thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh mà cán bộ vẫn không quyết, không dám làm thì việc học ấy chưa đạt yêu cầu.

Trên cơ sở đó, Chuyên đề toàn khóa đã làm rõ giá trị của di sản Hồ Chí Minh đối với dân tộc và thời đại, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn: một chỉnh thể vẹn toàn, kết tinh cao trí tuệ bản lĩnh, chính trị và cốt cách văn hóa của Việt Nam; là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng phát triển sáng tạo trong điều kiện cụ thể của chúng ta; là bộ phận hợp thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động xuyên suốt của Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Thấu triệt và thực hành bốn thành tố ấy sẽ tạo ra động lực tinh thần nội sinh to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Yêu cầu đặt ra và giải pháp đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới

Phần thứ ba: Yêu cầu đặt ra và giải pháp đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng

Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và đòi hỏi tự thân của cách mạng nước ta, Chuyên đề toàn khóa đã nêu rõ bối cảnh mới và các yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới xác lập hệ thống giải pháp tập trung vào 4 nhóm chủ yếu tác động trực tiếp đến các trụ cột phát triển của quốc gia:

Nhóm thứ nhất: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất năng lực uy tín ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ.

Nhóm thứ hai: Phát triển toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh và hạnh phúc; phát huy các giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Nhóm thứ ba: Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tạo ra bước bứt phá về kinh tế. Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh quốc gia, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ mọi rào cản để giải phóng lực lượng sản xuất.

Nhóm thứ tư: tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh và đối ngoại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn đánh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hệ thống các giải pháp này là sự cụ thể hóa các định hướng chiến lược trong Văn kiện 14 của Đảng để không dừng lại trên văn bản.

Việc quán triệt tổ chức thực hiện Chỉ thị số 07 không dừng lại ở đợt sinh hoạt chính trị thông thường mà phải là một bước chuyển thực sự về phương pháp, hành động và năng lực lãnh đạo cầm quyền của Đảng ta, tạo ra một xung lực mới, phá vỡ rào cản trì trệ, quyết sạch tư duy an phận, né tránh trách nhiệm, khơi thông điểm nghẽn của thể chế, đưa đất nước vững vàng bứt phá trong giai đoạn mới.

T. Thành ghi

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/hoc-tap-va-thuc-hanh-tu-tuong-dao-duc-phuong-phap-va-phong-cach-ho-chi-minh-trong-giai-doan-phat-trien-moi-10429357.html