Hơn 6.049 tỷ đồng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia tại Tuyên Quang
Theo Kế hoạch giai đoạn 2026-2030, tỉnh Tuyên Quang dự kiến được bố trí 6.049,67 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Tổng nguồn vốn ngân sách trung ương dự kiến bố trí trực tiếp cho Chương trình giai đoạn 2026-2030 của tỉnh Tuyên Quang là 6.049,67 tỷ đồng. Ảnh: Cổng TTĐT Tuyên Quang
Đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia bình quân từ 3%/năm trở lên; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo. Toàn tỉnh phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Tỉnh Tuyên Quang Phấn đấu khoảng 51,28% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 60/117 xã; khoảng 3,3% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tương đương 2 xã. Số tiêu chí nông thôn mới bình quân chung toàn tỉnh được nâng lên trên 7 tiêu chí/xã.
Để thực hiện các mục tiêu này, tỉnh tập trung hoàn thiện quy hoạch, phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao chất lượng các lĩnh vực giáo dục, y tế, thương mại, viễn thông, nước sạch và môi trường. Trong đó, phấn đấu 85% đường từ trung tâm xã đến các thôn, bản được nhựa hóa, bê tông hóa; trên 75% đường thôn và trên 65% đường nội đồng được cứng hóa. Hệ thống thủy lợi được sửa chữa, nâng cấp, bảo đảm phục vụ tưới ổn định khoảng 75.000 ha lúa, rau màu, cây trồng cạn và thủy sản vào năm 2030. Cùng đó, đặt mục tiêu trên 99% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới có hệ thống đài truyền thanh hoạt động. Hạ tầng số, viễn thông tiếp tục được hoàn thiện, ưu tiên khắc phục các khu vực còn “lõm” sóng, mở rộng hạ tầng cáp quang và chuyển đổi hệ thống truyền thanh cơ sở sang ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông.
Ưu tiên các mô hình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, giảm phát thải; hỗ trợ hợp tác xã, tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ. Công nghệ IoT, dữ liệu lớn, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và nhật ký sản xuất điện tử được khuyến khích áp dụng trong các vùng sản xuất hàng hóa. Các sản phẩm OCOP tiếp tục được nâng cao chất lượng, giá trị và tính bản địa, đồng thời mở rộng tiêu thụ thông qua thương mại điện tử. Cùng với phát triển sản xuất, tỉnh chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo nghề cho người dân nông thôn. Hằng năm phấn đấu có khoảng 50.000 lượt người lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; khoảng 11.000 người được vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Phấn đấu 100% hộ gia đình và cơ sở kinh doanh sử dụng các hình thức thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt; trên 90% hộ gia đình, cơ sở kinh doanh quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên nền tảng số, mạng xã hội và sàn thương mại điện tử; trên 90% hộ gia đình được tiếp cận, sử dụng các nền tảng số phục vụ chăm sóc sức khỏe. Tổ Công nghệ số cộng đồng duy trì tối thiểu một cuộc hướng dẫn sử dụng ứng dụng số mỗi tháng.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, thiết chế văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng, hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tổng nguồn vốn ngân sách trung ương dự kiến bố trí trực tiếp cho Chương trình giai đoạn 2026-2030 là 6.049,67 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công 4.333,52 tỷ đồng và kinh phí thường xuyên 1.716,15 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh huy động nguồn vốn đối ứng ngân sách địa phương và lồng ghép từ các chương trình, dự án khác để bảo đảm nguồn lực thực hiện các mục tiêu. Việc phân bổ nguồn vốn được định hướng ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã mục tiêu về đích nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại, bảo đảm tập trung, tránh dàn trải, trùng lặp./.

