Hơn 89.500 thôn sẽ thực hiện sắp xếp, sáp nhập thế nào?
Theo Bộ Nội vụ, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng, giảm từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025.

Bộ Nội vụ đề xuất tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền
Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo nghị định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố đang do Bộ Nội vụ xây dựng.
Theo Bộ Nội vụ, thực hiện nghị quyết 18 và các quy định của pháp luật hiện hành, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng, giảm từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025 (giảm 47.250 thôn, tổ dân phố, tương đương 34,53%).
Thực tế hiện nay, Bộ Nội vụ ghi nhận vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí về quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành và không đồng đều giữa các vùng, miền.
Thống kê cho thấy có 21.199 thôn tập trung tại khu vực miền núi phía Bắc dưới 150 hộ. Trong khi tại Hà Nội, TP. HCM có nhiều tổ dân phố có quy mô lớn, trên 1.000 hộ.
Trước đây, cả nước trung bình có 9 thôn/xã. Sau thời điểm sắp xếp cấp tỉnh, xã năm 2025, bình quân số thôn, tổ dân phố tăng lên gấp 3, khoảng 27 đơn vị/xã.
Cơ quan soạn thảo cho biết thực tế này đã làm tăng số lượng đầu mối và tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền cấp xã; đồng thời quy định hiện hành chưa được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Tiếp đó, theo số liệu tổng hợp từ các địa phương đến thời điểm tháng 12/2024, cả nước có 271.945 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Sau khi thực hiện sắp xếp, còn 268.722 người đang tiếp tục được bố trí và hưởng phụ cấp theo quy định hiện hành.
Trong thời gian qua, việc bố trí, sử dụng đội ngũ này cơ bản được thực hiện theo quy định hiện hành và bước đầu đáp ứng yêu cầu hoạt động ở cơ sở.
Tuy nhiên, khi thực hiện sắp xếp theo hướng tăng quy mô thôn, tổ dân phố, khối lượng và tính chất công việc có sự thay đổi, đòi hỏi phải tiếp tục rà soát, điều chỉnh chế độ, chính sách và phương án bố trí cho phù hợp, bảo đảm tương xứng với quy mô, tính chất công việc và yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới.
Tại dự thảo Nghị định, Bộ Nội vụ đề xuất nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể và đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố, cơ bản kế thừa các quy định hiện hành, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu quản lý của chính quyền cấp xã.
Theo đó, việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể và đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, dân chủ, công khai, minh bạch; phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, phong tục, tập quán và nguyện vọng của cộng đồng dân cư.
Dự thảo nêu rõ, thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí để tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
Về tiêu chí thành lập thôn, tổ dân phố, dự thảo nghị định quy định cụ thể tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền.
Quy mô này được xây dựng trên cơ sở rà soát quy định hiện hành, đánh giá mức độ tập trung dân cư và yêu cầu quản lý sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Đây là căn cứ thống nhất để các địa phương thực hiện sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trong cả nước.
Cụ thể, cơ quan soạn thảo đề xuất ở thành phố Hà Nội và TP. HCM thì thôn phải có từ 500 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ trở lên. Bên cạnh đó, thôn phải có từ 150 hộ trở lên, từ 300 hộ trở lên với tổ dân phố ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
Còn với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long thì thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Vùng Bắc Trung bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Với vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên thì thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên và có từ 500 hộ gia đình trở lên với tổ dân phố.
Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk thì thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Về trình tự, thủ tục, hồ sơ thực hiện, UBND cấp xã có trách nhiệm xây dựng đề án; tổ chức lấy ý kiến nhân dân bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.











