Hợp nhất LNG giúp hạ giá điện và giảm rủi ro an ninh năng lượng cho Việt Nam

Để LNG thực sự phát huy vai trò bảo đảm an ninh năng lượng và kiểm soát chi phí sản xuất điện, bài toán không chỉ nằm ở nguồn cung mà còn ở mô hình tổ chức thị trường và quản trị chuỗi cung ứng.

Mô hình hợp nhất LNG, cách tiếp cận chiến lược

Phát biểu tham luận tại Diễn đàn “Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế” do Báo Đại đoàn kết tổ chức sáng 14/1, ông Đặng Huy Đông, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, LNG không đơn thuần là một loại nhiên liệu thay thế than mà là một cấu phần quan trọng trong cấu trúc thị trường năng lượng mới. Khác với khí tự nhiên truyền thống phụ thuộc vào hệ thống đường ống xuyên biên giới, LNG tạo ra một “đường ống dẫn khí ảo toàn cầu” nhờ công nghệ hóa lỏng, vận chuyển bằng tàu chuyên dụng và tái hóa khí tại điểm tiêu thụ.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã tận dụng lợi thế này để phát triển LNG như một trụ cột năng lượng. Hoa Kỳ với mạng lưới đường ống khổng lồ và sự bùng nổ của khí đá phiến đã vươn lên thành một trong những nhà xuất khẩu LNG hàng đầu. Qatar, Australia, Brazil và nhiều quốc gia châu Phi cũng đang đầu tư mạnh vào các dự án hóa lỏng quy mô lớn. Riêng Qatar, sản lượng LNG dự kiến tăng từ 55 triệu tấn lên khoảng 170 triệu tấn/năm trong những năm tới, cho thấy vai trò ngày càng lớn của LNG trong hệ thống năng lượng toàn cầu.

Ở chiều ngược lại, các quốc gia nhập khẩu LNG lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt là Singapore đã lựa chọn mô hình Hợp nhất LNG nhằm tối ưu chi phí, giảm rủi ro và tăng sức mặc cả với các nhà cung cấp quốc tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông nêu nhiều đề xuất về cơ chế mua bán, vận chuyển LNG

Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông nêu nhiều đề xuất về cơ chế mua bán, vận chuyển LNG

Theo ông Đặng Huy Đông, mô hình Hợp nhất LNG được xây dựng trên nguyên tắc toàn bộ LNG được mua, bán và vận chuyển thông qua một đơn vị hợp nhất, hoạt động thay mặt cho Chính phủ hoặc dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Đơn vị này chịu trách nhiệm đàm phán các hợp đồng LNG dài hạn, quản lý logistics, phân bổ nhiên liệu cho các nhà máy điện và các hộ tiêu thụ.

Điểm cốt lõi của mô hình là hình thành mức giá LNG thống nhất trên toàn quốc, thay vì để từng doanh nghiệp hoặc từng nhà máy điện tự đàm phán với các điều khoản và mức giá khác nhau. Điều này giúp minh bạch hóa thị trường, giảm biến động giá nhiên liệu và tăng khả năng dự báo chi phí sản xuất điện.

Bên cạnh đó, hợp nhất LNG cho phép đồng bộ hóa các điều khoản hợp đồng với các tập đoàn năng lượng toàn cầu, giúp Chính phủ linh hoạt phân bổ LNG cho các mục đích sử dụng khác nhau như phát điện, công nghiệp hay phân bón, tùy theo nhu cầu từng giai đoạn. Một lợi thế quan trọng khác là khả năng tận dụng xếp hạng tín dụng quốc gia, qua đó tiếp cận các hợp đồng LNG dài hạn với mức giá và điều kiện cạnh tranh hơn, thay vì mỗi doanh nghiệp phải dựa vào năng lực tín dụng riêng.

Giảm rủi ro, hạ giá điện, hướng đi đáng cân nhắc cho Việt Nam

Trong lĩnh vực điện lực, mô hình Hợp nhất LNG mang lại nhiều lợi ích rõ rệt. Việc tách bạch vai trò giữa cung ứng nhiên liệu và vận hành hệ thống điện giúp các công ty điện lực tập trung tối ưu hóa điều độ, trong khi đơn vị hợp nhất LNG đảm bảo nguồn cung ổn định.

Mô hình này cũng giúp giảm thiểu rủi ro “take-or-pay” trong các hợp đồng LNG dài hạn. Đơn vị hợp nhất có thể điều phối linh hoạt các lô hàng LNG tới các nhà máy điện khác nhau, tiếp nhận tại nhiều cảng LNG trong nước, điều chỉnh lịch giao hàng, hoán đổi hoặc chuyển hướng lô hàng, thậm chí bán trên thị trường giao ngay khi cần thiết.

Đối với các quốc gia có xếp hạng tín dụng cao, hợp nhất LNG còn cho phép tham gia các giao dịch LNG kèm cơ chế bảo hiểm rủi ro chính trị trên cơ sở hợp tác Chính phủ với Chính phủ, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp điện lực tiếp cận nguồn nhiên liệu dài hạn với chi phí hợp lý hơn.

Theo ông Đặng Huy Đông, trong bối cảnh thị trường LNG Việt Nam đang ở giai đoạn hình thành, việc nghiên cứu và thí điểm mô hình Hợp nhất LNG để sản xuất điện là hướng đi đáng cân nhắc nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát chi phí và giảm rủi ro trong dài hạn.

Việc triển khai mô hình này cần gắn chặt với Quy hoạch điện, quy hoạch hạ tầng LNG và lộ trình chuyển dịch năng lượng quốc gia. Quan trọng hơn, hợp nhất LNG không chỉ là giải pháp kỹ thuật hay thương mại mà là một lựa chọn chiến lược về thể chế, giúp Việt Nam chủ động hơn trong hội nhập thị trường năng lượng toàn cầu.

“Nếu được thiết kế phù hợp, Hợp nhất LNG có thể trở thành đòn bẩy chiến lược giúp Việt Nam giảm rủi ro, ổn định giá điện và tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi sang hệ thống năng lượng xanh, bền vững”, ông Đặng Huy Đông nhấn mạnh.

Từ LNG đến hydrogen xanh: Việt Nam định hình trục năng lượng sạch mới

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) và hydrogen xanh đang nổi lên như hai trụ cột chiến lược. Sự kết hợp giữa LNG – nguồn năng lượng chuyển tiếp – và hydrogen xanh được kỳ vọng sẽ mở ra trục năng lượng sạch mới, vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Theo PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, Trưởng nhóm chuyên môn Hệ thống Năng lượng Nhiệt (Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội), Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, LNG có nhiều đặc tính vượt trội về an toàn và môi trường. Ở trạng thái tự nhiên, LNG không màu, không mùi, nhẹ hơn không khí và có nhiệt độ tự bốc cháy cao (khoảng 540 độ C), giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình sử dụng.

Khi cháy hoàn toàn, LNG tạo ra ngọn lửa màu xanh dương, với đỉnh ánh vàng do hàm lượng hydro cao, phản ánh quá trình cháy sạch và hiệu quả. So với than và dầu, LNG phát thải thấp hơn đáng kể các chất ô nhiễm như SOx, NOx, bụi mịn (PM), đồng thời lượng CO₂ phát thải trên cùng một đơn vị năng lượng cũng thấp hơn rõ rệt.

PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, Trưởng nhóm chuyên môn Hệ thống Năng lượng Nhiệt (Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội), Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam trình bày tại Diễn đàn

PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, Trưởng nhóm chuyên môn Hệ thống Năng lượng Nhiệt (Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội), Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam trình bày tại Diễn đàn

“Khí tự nhiên là nguồn nhiên liệu thay thế hiệu quả cho than và dầu, góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu than cho các nhà máy nhiệt điện”, PGS.TS. Phạm Hoàng Lương nhận định.

Đặc biệt, các nhà máy điện khí có khả năng vận hành linh hoạt, tăng – giảm công suất nhanh, qua đó hỗ trợ tích hợp tỷ trọng lớn điện gió và điện mặt trời vào hệ thống điện quốc gia. Trong bối cảnh năng lượng tái tạo ngày càng chiếm tỷ trọng cao nhưng phụ thuộc vào thời tiết, LNG đóng vai trò như một “bộ đệm”, giúp bảo đảm sự ổn định và an toàn của hệ thống điện.

Cầu nối quan trọng hướng tới Net Zero

Khí tự nhiên hiện được đánh giá là nhiên liệu hóa thạch “sạch” nhất, với mức phát thải CO2 thấp hơn tới 60% so với than trên cùng một đơn vị năng lượng hữu ích. Quan trọng hơn, LNG còn là nhiên liệu chuyển tiếp trung gian, cho phép các nhà máy điện khí từng bước chuyển sang đồng đốt (co-firing) với hydrogen xanh hoặc amoniac xanh trong tương lai, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Tuy nhiên, việc sử dụng khí tự nhiên cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt là nguy cơ phát thải methane (CH4) trong quá trình khai thác và vận chuyển. Điều này đòi hỏi tăng cường giám sát, giảm rò rỉ và phát triển các công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) nhằm giảm phát thải CO2 từ các nhà máy điện khí.

Về dài hạn, để đạt mục tiêu Net Zero, ngành năng lượng cần từng bước chuyển đổi từ khí tự nhiên sang hydrogen xanh và amoniac xanh.

Hydrogen có thể được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch như than và khí tự nhiên, song hydrogen xanh – sản xuất bằng phương pháp điện phân nước sử dụng điện từ năng lượng tái tạo – được coi là giải pháp tối ưu do không phát thải CO2 trong quá trình sản xuất. Hydrogen xanh đặc biệt phù hợp với các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiệt độ cao mà điện khó thay thế, như luyện thép, xi măng, hóa chất. Việc ứng dụng hydrogen trong các lĩnh vực này được kỳ vọng sẽ góp phần loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải khí nhà kính.

Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024, đã xác định hydrogen là một thành tố quan trọng của hệ thống năng lượng quốc gia. Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất khoảng 100.000–500.000 tấn hydrogen mỗi năm từ năng lượng tái tạo và các quá trình có thu giữ carbon; đến năm 2050, quy mô sản xuất dự kiến đạt 10–20 triệu tấn/năm.

Hydrogen sẽ được thử nghiệm và ứng dụng trong sản xuất điện (đồng đốt với khí và than), giao thông vận tải, cũng như trong các ngành công nghiệp như phân bón, lọc hóa dầu, thép và xi măng. Về lâu dài, hydrogen xanh và các nhiên liệu có nguồn gốc từ hydrogen được định hướng triển khai rộng rãi, với mục tiêu chiếm khoảng 10% tổng nhu cầu năng lượng tiêu thụ cuối cùng.

Song song với đó, Việt Nam sẽ từng bước phát triển hạ tầng tồn trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen, tận dụng cơ sở hạ tầng khí hiện hữu, hình thành các trung tâm sản xuất – phân phối hydrogen và hướng tới xuất khẩu hydrogen xanh nhờ lợi thế về tài nguyên năng lượng tái tạo và vị trí địa lý.

Theo PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, sử dụng khí tự nhiên (khí nội địa và LNG) làm nhiên liệu chuyển tiếp là giải pháp then chốt để thay thế dần than, hỗ trợ tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn và trung hạn. Trên nền tảng đó, hydrogen phát thải thấp và hydrogen xanh sẽ kiến tạo hệ sinh thái năng lượng mới, từng bước khử carbon trong công nghiệp và giao thông vận tải.

“Nếu tận dụng tốt giai đoạn chuyển tiếp này, hydrogen xanh không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero 2050 mà còn có thể trở thành động lực đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu năng lượng sạch của khu vực trong tương lai”, PGS.TS. Phạm Hoàng Lương nhấn mạnh.

Hoàng Mai

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/hop-nhat-lng-giup-ha-gia-dien-va-giam-rui-ro-an-ninh-nang-luong-cho-viet-nam.html