Hùn tiền mua đất chung, em trai nói tiền vay, chị gái khẳng định tiền góp
Cùng góp tiền mua đất và xây nhà nhưng mâu thuẫn phát sinh khiến hai chị em ruột tại Quảng Ngãi đưa nhau ra tòa. Tranh chấp xoay quanh việc xác định đây là tài sản chung hay khoản tiền vay mượn khi mua đất.
Chị gái nói hùn tiền mua đất, em trai nói đó là tiền vay
Theo trình bày của bà K. (ngụ tỉnh Quảng Ngãi), bà và ông D. là chị em ruột. Năm 2017, vợ chồng bà và vợ chồng ông D. thỏa thuận góp tiền mua chung một thửa đất tại Quảng Ngãi với giá 840 triệu đồng.
Bà K. cho biết mỗi gia đình góp 420 triệu đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất. Sau đó, hai bên tiếp tục góp tiền xây dựng một căn nhà cấp 4 trên đất với tổng chi phí khoảng 250 triệu đồng.
Trong đó, vợ chồng bà K. cho rằng đã chi khoảng 127 triệu đồng cho vật liệu, tiền công thợ và các chi phí phát sinh; phần còn lại do vợ chồng ông D. đóng góp.
Ban đầu, hai bên dự định sử dụng căn nhà làm địa điểm kinh doanh. Tuy nhiên, sau khi công trình hoàn thành, vợ chồng ông D. không đồng ý nên kế hoạch này bị hủy bỏ.
Từ đó, vợ chồng ông D. chuyển đến sinh sống tại căn nhà, còn vợ chồng bà K. chỉ sử dụng nơi này để đỗ ô tô. Đến cuối năm 2020, vợ chồng ông D. tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện căn nhà để ở ổn định.

Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Mâu thuẫn phát sinh khi con của bà K. bị bệnh, gia đình cần tiền chữa trị. Bà K. đề nghị vợ chồng em trai hoàn trả một nửa giá trị nhà và đất theo giá thị trường, cho rằng đây là tài sản hai bên cùng góp tiền mua và xây dựng. Tuy nhiên, vợ chồng ông D. không đồng ý, khẳng định thửa đất và căn nhà là tài sản của mình.
Cho rằng quyền lợi bị ảnh hưởng, bà K. khởi kiện yêu cầu tòa án chia tài sản chung là nhà và đất đã cùng góp tiền mua. Vợ chồng bà đồng ý giao căn nhà cho gia đình ông D. sử dụng nhưng phải thanh toán lại một nửa giá trị tài sản, tương ứng gần 1 tỷ đồng theo kết quả thẩm định.
Ở chiều ngược lại, ông D. cho rằng thời điểm mua đất năm 2017, vợ chồng ông thiếu tiền nên đã mượn của vợ chồng bà K. 420 triệu đồng. Do là người thân nên việc vay mượn không lập giấy tờ.
Theo ông D., việc để vợ chồng bà K. cùng đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ nhằm phòng ngừa rủi ro trong trường hợp vợ chồng ông xảy ra ly hôn.
Ông D. khẳng định 420 triệu đồng là tiền vay, không phải tiền góp mua đất. Vì vậy, vợ chồng ông chỉ đồng ý hoàn trả 420 triệu đồng và hỗ trợ thêm 250 triệu đồng do trượt giá, tổng cộng 670 triệu đồng, đồng thời không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung.
Tòa xác định nhà, đất là tài sản chung
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Quảng Ngãi (nay là TAND khu vực 1 - Quảng Ngãi) nhận định việc cả bốn người cùng đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cùng tham gia xây dựng nhà là căn cứ xác định đây là tài sản chung của hai cặp vợ chồng.
Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K., xác định vợ chồng bà được hưởng một nửa giá trị quyền sử dụng đất và căn nhà trên thửa đất nói trên.
Theo bản án, toàn bộ nhà và đất được giao cho vợ chồng ông D. quản lý, sử dụng; đồng thời phải thanh toán lại cho vợ chồng bà K. gần 1 tỷ đồng, tương ứng một nửa giá trị tài sản theo kết quả thẩm định.
Không đồng ý với phán quyết này, vợ chồng ông D. kháng cáo, cho rằng thửa đất là tài sản riêng của mình và khoản 420 triệu đồng của vợ chồng chị gái chỉ là tiền cho vay.
Tuy nhiên, TAND tỉnh Quảng Ngãi nhận định lập luận này không có cơ sở. Vợ chồng ông D. không chứng minh được việc vay mượn tiền cũng như thỏa thuận để vợ chồng bà K. đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ nhằm “làm tin”.
Hồ sơ vụ án thể hiện giấy nhận tiền năm 2017 của người bán đất ghi nhận đã nhận tiền của cả ông D. và bà K. để chuyển nhượng thửa đất. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng hợp pháp cũng xác định bốn người cùng là bên nhận chuyển nhượng.
Đối với căn nhà trên đất, vợ chồng ông D. cho rằng toàn bộ chi phí xây dựng do họ bỏ ra nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Ngược lại, bà K. cung cấp nhiều chứng từ mua vật liệu và thuê thợ, thể hiện có đóng góp vào quá trình xây dựng.
Từ đó, tòa xác định căn nhà cũng là tài sản chung của bốn người và quyết định không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông D., giữ nguyên bản án sơ thẩm.












