Hương mật, vị đất rừng U Minh Hạ

Ăn ong non chấm mật - thứ mật màu vàng cam trong vắt, sánh quyện, ngọt nhẹ nhưng thơm ngát hương hoa tràm. Chỉ nghe lời giới thiệu mộc mạc ấy thôi cũng đủ khiến người ta 'chảy nước miếng', để rồi quyết định theo chân những người thợ rừng U Minh Hạ bước vào một hành trình rất riêng của miền đất cuối trời Nam Bộ: săn mật ong rừng, đặt trúm bắt lươn - những nghề truyền thống kết tinh từ thiên nhiên, kinh nghiệm và tình yêu rừng.

Theo chân thợ ong vào “xứ mật” rừng tràm

Vườn Quốc gia U Minh Hạ rộng hơn 8.000ha, là vùng sinh thái rừng tràm đặc trưng hiếm có của Đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây hội tụ hệ động, thực vật phong phú, đa dạng, trong đó cây tràm được xem là “linh hồn” của cánh rừng. Mỗi mùa hoa nở, hương tràm lan tỏa khắp không gian, tạo nguồn mật dồi dào, hấp dẫn đàn ong rừng tìm về hút mật, làm tổ.

Từ điều kiện tự nhiên ưu đãi ấy, qua nhiều thế hệ, cư dân U Minh Hạ đã hình thành nghề gác kèo ong - phương thức khai thác mật ong rừng hoàn toàn dựa vào quy luật tự nhiên, vừa mưu sinh, vừa gìn giữ rừng.

Tôi theo chân hai người thợ ong là ông Phạm Duy Khanh, chủ khu du lịch sinh thái cộng đồng Mười Ngọt (ấp 10, xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau) và ông Huỳnh Vũ Hoàng (42 tuổi, ngụ cùng xã). Cả hai đều gắn bó với rừng U Minh Hạ hơn hai thập kỷ, tiếp nối nghề cha truyền con nối nơi vùng đất tận cùng Tổ quốc.

Chuẩn bị cho chuyến “săn” mật, họ mang theo dao, bó đuốc cuốn bằng xơ dừa và đội mũ lưới bảo hộ trùm kín cổ. Chiếc xuồng máy nhẹ lướt qua thảm bèo xanh dày đặc, len giữa những rừng lau sậy bung cờ trắng xóa, tiến sâu vào vùng xanh thăm thẳm của rừng tràm - nơi có hơn 1.000 kèo ong được gác rải rác.

Theo ông Khanh, trước mùa hoa tràm, người thợ hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm để chọn trảng, đẽo kèo, xác định hướng gió, hướng nắng.

“Gác kèo trúng thì ong tự về làm tổ, cho mật ngọt quanh năm. Nghề này là nhờ trời, nhờ rừng và nhờ cái tâm của người giữ rừng” - ông Khanh chia sẻ.

Ong non được tận dụng chế biến nhiều món ăn dân dã
như ong non lăn bột chiên, gỏi ong...

Tiếp cận tổ ong dài gần cả mét, ông Khanh và ông Hoàng nhẹ nhàng đưa bó đuốc xơ dừa quơ đều phía trước. Khói tỏa ra vừa đủ, không gây ngạt, khiến ong bay tản ra ngoài. Theo những người thợ lành nghề, săn ong vào buổi sáng sớm là an toàn nhất, khi sương còn đọng trên lá, giảm nguy cơ cháy rừng, ong cũng chưa hoạt động mạnh.

Chỉ trong ít phút, những miếng tổ ong được cắt gọn gàng. Mật ong sánh đặc, vàng óng, tỏa hương thơm ngào ngạt của hoa tràm.

“Tôi theo cha đi săn ong từ năm 15 tuổi, bị ong đốt là chuyện thường. Lúc đầu sợ lắm, nhưng rồi quen nghề, quen rừng” - ông Hoàng cười hiền.

Gác kèo ong được xem là cả một nghệ thuật. Kèo thường làm từ cây bình bát hoặc cây cau; trong đó, cây bình bát được ưa chuộng vì nhanh khô, ít mủ, tỷ lệ ong về làm tổ đạt 40 - 50%. Trảng gác kèo phải rộng, thoáng, có nắng chiếu; kèo không bị ẩm mốc. Trụ cao nhất khoảng 2,6m, trụ thấp nhất khoảng 1,4m, kèo phải gác dốc để mật cho nhiều. Từ khi ong làm tổ đến lúc thu hoạch mất khoảng 15 - 20 ngày.

Mùa “săn” ong chính kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch. Trung bình mỗi tổ cho 3 - 5 lít mật, tổ lớn có thể đạt hơn 10 lít.

Điều đặc biệt là người thợ không bao giờ lấy hết tổ. Thông thường chỉ cắt khoảng 3/4 hoặc 4/5 tổ, để đàn ong tiếp tục làm tổ mới trên nền cũ - cách ứng xử hài hòa giữa con người và tự nhiên.

Tổ ong mang về được chế biến thành nhiều món dân dã: ong non nấu cháo, chiên bột, làm gỏi, mắm ong… Phấn ong giúp phục hồi sức khỏe; sáp ong dùng làm đèn cầy, đèn thắp sáng. Qua thời gian, nghề gác kèo ong đã tạo nên những “nghệ nhân” am hiểu tập tính ong, thông thạo địa hình rừng và mang trong mình ý thức bảo vệ thiên nhiên.

Theo chân thợ săn ong, nhiều du khách không khỏi thích thú. Ông Nguyễn Thống Nhất (du khách đến từ TP Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh) chia sẻ: “Lần đầu tận mắt chứng kiến quy trình lấy mật ong, được thưởng thức ngay giữa rừng tràm mênh mông, cảm giác rất đặc biệt. Kết hợp xem đặt trúm bắt lươn, đổ lợp bắt cá khiến chuyến đi trở nên hấp dẫn hơn rất nhiều”.

Du khách nước ngoài - ông Peters Olaf và bà Regeniter Anja (Đức) cũng tỏ ra ấn tượng khi được trực tiếp vắt mật ong, nếm vị ngọt thanh và hương thơm đặc trưng của mật ong rừng U Minh Hạ - một trải nghiệm khó quên giữa thiên nhiên hoang sơ.

Ông Peters Olaf và bà Regeniter Anja (Đức) tỏ ra ấn tượng khi được trực tiếp nếm vị ngọt thanh và hương thơm đặc trưng của mật ong rừng U Minh Hạ.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau, nghề gác kèo ong là nét văn hóa đặc sắc của cư dân rừng tràm U Minh Hạ, đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4613/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019. Thời gian qua, địa phương tổ chức nhiều lớp tập huấn, truyền nghề, kết hợp quảng bá du lịch trải nghiệm nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản độc đáo này.

Đặt trúm bắt lươn - vị đất níu chân người

Song hành với nghề gác kèo ong, đặt trúm bắt lươn là nghề truyền thống lâu đời của nông dân Cà Mau. Mùa đặt trúm kéo dài từ tháng 6 đến tháng 12, khi mưa nhiều, thảm thực vật phát triển, tạo môi trường lý tưởng cho lươn sinh sống.

Khoảng đầu giờ chiều, ông Phạm Duy Khanh bơi xuồng ba lá mang theo hàng chục ống trúm, tỏa ra các tuyến kênh trong rừng. Trúm thường làm từ tre gai già, dài khoảng 1,05 - 1,1m, đục thông bên trong, chừa mắc chót giữ lươn, khoét lỗ thông hơi để lươn không bị chết ngộp. Ngày nay, nhiều nơi thay thế bằng ống nhựa PVC để tiện sử dụng.

Ông Khanh bơi xuồng ba lá mang theo trúm, dò tìm bãi cỏ năng, cỏ lác để đặt hom; sáng hôm sau thăm trúm, thu được những con lươn vàng óng, mập tròn, nhiều trúm dính từ 1 - 2 con.

“Mồi đặt trúm rất đơn giản như cá sặc, cua đồng, nhái, ốc, trùng băm nhuyễn, nấu chín, trộn dầu cá cho thơm rồi cho vào ống. Trúm được đặt nghiêng, đuôi nổi khỏi mặt nước 5 - 7cm. Sau một đêm, sáng sớm dỡ trúm có thể thu được những con lươn to, da vàng rộm. Trung bình, 30 ống trúm cho sản lượng 3 - 5kg lươn mỗi đêm, giá bán khoảng 350.000 đồng/kg” - ông Khanh chia sẻ.

Lươn được chế biến thành nhiều món ăn dân dã, bổ dưỡng như canh chua lươn, lươn xào sả ớt, cháo lươn...

Không chỉ mang lại thu nhập, săn mật ong và đặt trúm lươn đã trở thành một phần nếp sinh hoạt văn hóa của người dân U Minh Hạ. Thành quả lao động được chế biến thành những món ăn dân dã mà bổ dưỡng như lươn um lá nhàu, canh chua lươn, lươn xào sả ớt hay lươn nướng mọi nhâm nhi cùng rượu đế - hương vị rất riêng của miền quê Nam Bộ.

Giữa rừng tràm bạt ngàn, những dòng mật ngọt và những chiếc trúm lươn mộc mạc không chỉ nuôi sống bao thế hệ mà còn góp phần tạo nên sức hút đặc biệt cho du lịch Cà Mau.

Trọng Nghĩa

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/huong-mat-vi-dat-rung-u-minh-ha.html