IELTS: Sàn chất lượng hay điểm ưu tiên?

IELTS là thước đo năng lực ngoại ngữ hay một lợi thế trong cuộc đua tuyển sinh? Câu hỏi không nằm ở việc có ghi nhận IELTS hay không, mà là ghi nhận ở đâu, mức nào và thế nào cho công bằng.

IELTS: Không nên trở thành điểm ưu tiên trong xét tuyển

TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học FPT, cho rằng cần nhìn lại cách sử dụng chứng chỉ IELTS và một số chứng chỉ khác trong tuyển sinh là công cụ xác nhận năng lực đầu vào hay trở thành điểm ưu tiên trong cuộc đua xét tuyển?

Theo TS Tùng, nếu một chương trình đào tạo bằng tiếng Anh yêu cầu IELTS 6.0 thì hợp lý, bởi đây có thể được xem là một “sàn chất lượng”. Thí sinh không đủ năng lực tiếng Anh sẽ khó theo học.

Nhưng khi một thí sinh có IELTS 8.0 được cộng nhiều điểm hơn người có IELTS 6.5 để tạo lợi thế trong cạnh tranh tuyển sinh, câu chuyện lại khác. Theo ông, cả hai đều đã vượt qua mức năng lực ngoại ngữ cần thiết của chương trình.

TS Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học FPT

TS Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học FPT

“Nếu tiếp tục biến IELTS thành điểm cộng, ta đã chuyển một điều kiện chất lượng thành lợi thế cạnh tranh tuyển sinh. SAT cũng có thể được nhìn tương tự”, ông Tùng nói.

Theo ông, các chứng chỉ hoặc kết quả đánh giá bổ sung có thể được sử dụng để xác nhận thí sinh đáp ứng một yêu cầu đầu vào, nhất là với những chương trình hoặc nhóm thí sinh đặc thù. Tuy nhiên, cần thận trọng khi biến những chứng chỉ này thành điểm ưu tiên trong cuộc cạnh tranh chung.

TS Tùng cho rằng Nhà nước không thể ngăn những gia đình có điều kiện cho con học thêm tiếng Anh hay luyện thi. Nhưng quy chế tuyển sinh không nên chủ động khuếch đại lợi thế về điều kiện kinh tế bằng điểm cộng.

Từ đó, ông đề xuất có thể xem đây là một nguyên tắc: chứng chỉ bổ sung có thể được dùng làm “sàn chất lượng”, nhưng không nên trở thành điểm ưu tiên trong xét tuyển.

Bỏ điểm cộng chưa đủ để tạo công bằng?

Bà Lâm Hương, người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, cho rằng câu chuyện bỏ điểm cộng IELTS cần được nhìn rộng hơn.

Theo bà, trước hết cần phân biệt rõ: việc không cộng điểm IELTS không đồng nghĩa với việc loại bỏ chứng chỉ này khỏi tuyển sinh đại học. Điều quan trọng là IELTS được sử dụng ở khâu nào và với mục đích gì.

Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc chứng minh điều kiện ngoại ngữ đầu vào của chương trình. Vấn đề được đặt ra là có nên cộng thêm điểm ngoài thang xét tuyển chính hay không.

Việc phân biệt hai cách sử dụng này rất quan trọng. Nếu không, tranh luận dễ bị hiểu thành “bỏ IELTS” khỏi tuyển sinh, trong khi vấn đề thực tế là IELTS nên được ghi nhận như thế nào.

Vậy một sinh viên đã đỗ đại học và có IELTS cao có lợi thế không?

Theo bà Hương là có, nhưng đó là một loại lợi thế khác. Sinh viên có năng lực tiếng Anh tốt có thể đọc giáo trình và tài liệu quốc tế, tiếp cận các nghiên cứu mới, học chương trình bằng tiếng Anh, tham gia trao đổi sinh viên, học các khóa trực tuyến và mở rộng cơ hội việc làm trên thị trường quốc tế.

Bà Lâm Hương, một người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Ảnh: NVCC

Bà Lâm Hương, một người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Ảnh: NVCC

Ở nhiều lĩnh vực như kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, tài chính, y sinh hay khoa học xã hội, không ít nguồn tài liệu chuyên môn quan trọng được viết bằng tiếng Anh.

“IELTS không phải năng lực chuyên môn, nhưng ngoại ngữ là công cụ giúp mở rộng năng lực chuyên môn. Đó là lý do mình nghĩ chúng ta cần tránh cả hai thái cực: không thần thánh hóa IELTS, nhưng cũng không nên xem IELTS chỉ là lợi thế do gia đình có điều kiện mua được”, bà Hương nói.

Không cộng điểm, nhưng có thể ghi nhận theo cách khác

Theo bà Hương, với những tổ hợp không có tiếng Anh, việc có nên cộng IELTS vào điểm xét tuyển càng cần được cân nhắc.

Bà lấy ví dụ một ngành kỹ thuật xét tổ hợp A00 gồm Toán, Vật lý, Hóa học. Một học sinh có 28 điểm A00 và IELTS 7.0, trong khi một học sinh khác cũng đạt 28 điểm A00 nhưng không có IELTS.

Nếu mục tiêu tuyển sinh của ngành là đánh giá năng lực Toán, Lý, Hóa thì việc không cộng trực tiếp IELTS vào tổng điểm A00 là có cơ sở, bởi chứng chỉ này không đo năng lực của ba môn trên.

Tuy nhiên, theo bà Hương, điều đó không có nghĩa năng lực ngoại ngữ hoàn toàn không được ghi nhận.

Trường có thể sử dụng IELTS như tiêu chí phụ khi thí sinh bằng điểm; điều kiện đầu vào của chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, chương trình tiên tiến; điều kiện miễn học phần ngoại ngữ; hoặc điều kiện tham gia một số chương trình quốc tế, tùy yêu cầu của từng ngành, từng chương trình.

“Như vậy vừa tránh để IELTS ‘đè’ lên năng lực chuyên môn, vừa không phủ nhận một năng lực có giá trị thật”, bà Hương nói.

Theo bà Hương, câu hỏi không nên chỉ dừng ở việc “IELTS có đáng được cộng điểm hay không?”, mà cần đi sâu hơn: năng lực ngoại ngữ nên được ghi nhận ở đâu, ở mức nào và trong ngành nào để phản ánh đúng giá trị của nó.

Cơ hội học IELTS cũng là một vấn đề công bằng

Một vấn đề khác khiến tranh luận về điểm cộng IELTS trở nên phức tạp là sự khác biệt về cơ hội tiếp cận việc học và luyện thi ngoại ngữ giữa các nhóm học sinh.

Một học sinh ở thành phố có thể tiếp cận các trung tâm ngoại ngữ, giáo viên, Internet và nguồn học liệu phong phú, đồng thời có điều kiện thi lại nhiều lần. Trong khi đó, học sinh ở vùng sâu, vùng xa có thể không có những điều kiện tương tự.

Sự chênh lệch này được đặt ra trong tranh luận về công bằng tuyển sinh: nếu một chứng chỉ tạo ra lợi thế trong xét tuyển, liệu lợi thế đó có vô tình nghiêng về những học sinh có nhiều điều kiện học tập và luyện thi hơn?

Theo bà Hương, nếu sự bất bình đẳng nằm ở cơ hội tiếp cận việc học, thì việc bỏ điểm cộng ở cuối quá trình chưa chắc đã giải quyết được vấn đề từ gốc.

Nếu mục tiêu là thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, theo bà, cần đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, Internet, giáo viên ngoại ngữ, học liệu số, các chương trình học trực tuyến chất lượng, đào tạo giáo viên tại địa phương, hỗ trợ lệ phí thi và mở rộng địa điểm thi. Bên cạnh đó là xây dựng những bài đánh giá năng lực ngoại ngữ trong nước có chất lượng.

“Nói đơn giản, nếu một học sinh ở miền núi chưa được học tiếng Anh tốt vì thiếu giáo viên, thì giải pháp dài hạn phải là đưa giáo viên và điều kiện học tập tốt đến với học sinh chứ không chỉ là: ‘Vì em chưa có điều kiện học IELTS nên chúng ta bỏ lợi thế của những học sinh đã có IELTS’”, bà Hương nói.

Từ năm 2027, dự thảo quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT đề xuất không cộng điểm cho chứng chỉ IETLS, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung do cơ sở đào tạo tự quy định. Dù đánh giá dự kiến của Bộ gây sốc với nhiều học sinh, các chuyên gia cho rằng về lâu dài, đây là thay đổi tích cực. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhấn mạnh điểm mấu chốt nằm ở lộ trình thực hiện. Họ cho rằng việc thay đổi cần có lộ trình, được thông báo trước ít nhất 2-3 năm để không làm giảm động lực học tập cho học sinh.

Đỗ Hợp

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/ielts-san-chat-luong-hay-diem-uu-tien-post1878462.tpo