PGS.TS Lê Hiếu Học: 'Chất lượng tuyển sinh không chỉ nằm ở giới hạn số phương thức xét tuyển'
PGS.TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng cần bảo đảm chất lượng tuyển sinh, nhưng không chỉ bằng cách giới hạn số phương thức xét tuyển mà bằng việc yêu cầu các phương thức phải thực sự đánh giá đúng năng lực.
Nội dung liên quan đến điều chỉnh điểm cộng IELTS hay giới hạn số phương thức xét tuyển trong Dự thảo Thông tư sửa đổi quy chế tuyển sinh đề xuất từ năm 2027 của Bộ GD-ĐT đang được nhiều ý kiến quan tâm những ngày gần đây.
Theo nội dung Dự thảo, năm 2027 áp dụng 3 phương thức và từ năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo; xét tuyển thẳng và cử tuyển không tính vào giới hạn này. Ở cấp cơ sở đào tạo, dự thảo vẫn quy định sử dụng tối đa 5 phương thức.
Bên cạnh đó, Dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.

Thí sinh tham gia Ngày hội lựa chọn nguyện vọng xét tuyển đại học - cao đẳng 2026. Ảnh: Xuân Quý
Cần phân biệt công bằng trong tuyển sinh với công bằng về cơ hội học tập
Nêu quan điểm về vấn đề trên, PGS.TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, vấn đề đáng bàn hơn không phải "nên cộng bao nhiêu điểm IELTS hay mỗi ngành được dùng bao nhiêu phương thức", mà là "Bộ GD-ĐT nên đóng vai trò như thế nào để vừa bảo đảm công bằng, vừa bảo đảm chất lượng tuyển sinh, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao?".
Tại phiên giải trình của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tình hình thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ngày 20/9, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh hai nguyên tắc: đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng giữa các thí sinh. PGS.TS Lê Hiếu Học nhìn nhận đây là hai mục tiêu rất quan trọng. Tuy nhiên, cần phân biệt công bằng trong tuyển sinh với công bằng về cơ hội học tập.
"Nếu học sinh ở vùng khó khăn ít có điều kiện học ngoại ngữ, tiếp cận giáo viên tốt, trung tâm luyện thi hay kỳ thi quốc tế, việc cộng điểm IELTS có thể tạo ra lợi thế cho nhóm học sinh có điều kiện hơn. Nhưng không cộng điểm IELTS mới chỉ xử lý sự khác biệt tại thời điểm xét tuyển. Nó không làm cho học sinh vùng khó khăn có thêm giáo viên tiếng Anh, có môi trường học ngoại ngữ tốt hơn hay có nhiều cơ hội tiếp cận học liệu chất lượng hơn. Vì vậy, nếu mục tiêu là công bằng, Nhà nước cần quan tâm không chỉ đến công bằng tại “cửa vào đại học”, mà cả công bằng trên con đường đi tới cánh cửa đó", ông cho hay.
Theo PGS.TS Lê Hiếu Học, câu chuyện IELTS cũng cần được nhìn từ góc độ khoa học đo lường và đánh giá. IELTS trước hết là công cụ đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh. Một thí sinh đạt IELTS 7.0 đã cung cấp bằng chứng về năng lực ngoại ngữ của mình. Nhưng điểm IELTS không cho biết trực tiếp người đó có năng lực toán học, tư duy kỹ thuật hay một năng lực chuyên môn khác cao hơn.
Vì thế, câu hỏi không nên chỉ là “IELTS có tốt hay không?”, mà là: “Kết quả IELTS được sử dụng để đưa ra quyết định gì?”. Nếu một chương trình đào tạo bằng tiếng Anh hoặc coi ngoại ngữ là năng lực đầu vào quan trọng, việc sử dụng IELTS là hợp lý. Nhưng nếu IELTS trở thành một khoản điểm cộng cho những ngành mà ngoại ngữ không phải yêu cầu đầu vào quan trọng, cần xem xét lại sự phù hợp của cách sử dụng đó.

PGS.TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: HUST
Tương tự, với chủ trương thu gọn số phương thức tuyển sinh, ông cho rằng, vấn đề quan trọng không chỉ là nhiều hay ít phương thức. Nếu cùng một ngành tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực và các hình thức kết hợp khác nhưng không chứng minh được các thang điểm có thể đối sánh hợp lý, thì rõ ràng có vấn đề về công bằng và chất lượng.
Nhưng cũng cần hỏi: Vấn đề nằm ở chỗ có quá nhiều phương thức, hay ở chỗ chất lượng và khả năng đối sánh giữa các phương thức chưa được chứng minh đầy đủ?
Một chương trình có nhiều phương thức chưa chắc tuyển sinh kém hơn chương trình chỉ có một phương thức. Ngược lại, một phương thức duy nhất cũng chưa chắc đánh giá đầy đủ những năng lực cần thiết. Điều quan trọng hơn là phương thức đó đánh giá năng lực gì; năng lực ấy có liên quan đến khả năng học thành công trong chương trình hay không; kết quả có đủ tin cậy không; và sinh viên được tuyển từ các nguồn khác nhau sau khi nhập học có kết quả thế nào.
"Đây cũng là nơi cần xác định rõ ranh giới giữa quản lý nhà nước và quyền tự chủ của trường đại học. Bộ GD-ĐT cần đặt ra các nguyên tắc chung, chuẩn tối thiểu và yêu cầu về công bằng, minh bạch, chất lượng. Nhưng các trường cũng cần có trách nhiệm chứng minh bằng dữ liệu rằng phương thức tuyển sinh của mình thực sự phù hợp với chương trình. Nói cách khác, câu hỏi không nên chỉ là “Bộ quản nhiều hay quản ít?”, mà quan trọng hơn là: Bộ quản lý điều gì, trường được tự chủ đến đâu và các trường phải giải trình bằng những bằng chứng nào?", PGS.TS Lê Hiếu Học nhấn mạnh.
Ông nhìn nhận, điều này càng quan trọng khi nhìn tuyển sinh từ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các ngành Kỹ thuật - Công nghệ, Y khoa, Khoa học Giáo dục, Ngoại ngữ, Nghệ thuật, Tâm lý học hay Kinh tế - Quản trị không nhất thiết cần cùng một cấu hình năng lực đầu vào. Tuyển sinh vì thế không chỉ là phân phối chỗ học, mà còn là quá trình nhận diện và lựa chọn người học phù hợp để tiếp tục đào tạo thành nguồn nhân lực mà xã hội cần.
Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là tính ổn định của chính sách. Bởi học sinh không chuẩn bị cho đại học trong vài tháng. Việc học IELTS, lựa chọn tổ hợp môn hay chuẩn bị cho kỳ thi đánh giá năng lực có thể kéo dài nhiều năm. Vì vậy, ngay cả một thay đổi hợp lý về chuyên môn cũng cần có lộ trình đủ rõ và đủ sớm để người học thích ứng.
PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, vai trò của Bộ GD-ĐT trong tuyển sinh cần tập trung vào ba vấn đề lớn. Thứ nhất, bảo đảm công bằng, nhưng không chỉ ở khâu xét tuyển mà còn trong cơ hội học tập. Thứ hai, bảo đảm chất lượng tuyển sinh, nhưng không chỉ bằng cách giới hạn số phương thức mà bằng việc yêu cầu các phương thức phải thực sự đánh giá đúng năng lực. Thứ ba, tạo khuôn khổ để các trường lựa chọn được người học phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định tuyển sinh của mình.
"Câu hỏi lớn nhất không phải là IELTS có được cộng điểm hay mỗi ngành được có bao nhiêu phương thức xét tuyển. Câu hỏi quan trọng hơn là: "Làm thế nào để xây dựng một hệ thống tuyển sinh vừa đánh giá đúng năng lực, vừa bảo đảm công bằng, vừa tôn trọng quyền tự chủ của các trường và lựa chọn được người học phù hợp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao?"
Và có lẽ, công bằng bền vững không chỉ là giảm lợi thế của những học sinh đã có điều kiện phát triển năng lực, mà còn là mở rộng cơ hội để nhiều học sinh hơn có thể hình thành và chứng minh những năng lực mà giáo dục đại học và thị trường lao động thực sự cần", PGS.TS Lê Hiếu Học nhấn mạnh.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: Văn Mạnh
Đặt các hàng rào kỹ thuật chung để bảo đảm công bằng, đánh giá đúng năng lực người học
Trước đó, tại phiên giải trình của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tình hình thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo do Uỷ ban Văn hoá và Xã hội tổ chức tại trụ sở Quốc hội sáng 20/9, vấn đề tuyển sinh đại học, cao đẳng được nhiều đại biểu đề cập trong nội dung chất vấn.
Liên quan đến việc điều chỉnh quy chế tuyển sinh đại học, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn chia sẻ, quan điểm của Bộ GD-ĐT là những chính sách lớn cần được giữ ổn định; công tác tuyển sinh phải bảo đảm nguyên tắc: tin cậy, đánh giá đúng năng lực người học và công bằng.
Thực hiện Luật Giáo dục đại học, các trường được trao quyền tự chủ trong xác định phương thức tuyển sinh. Bộ tôn trọng quyền tự chủ này nhưng vẫn phải đặt ra các hàng rào kỹ thuật chung để bảo đảm công bằng, độ tin cậy và đánh giá đúng năng lực người học.
Hiện các trường sử dụng nhiều phương thức tuyển sinh, Bộ GD-ĐT thống kê và phân loại thành khoảng 20 nhóm. Tuy nhiên, về cơ bản vẫn tập trung vào một số phương thức chính như xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ, xét kết quả các kỳ thi đánh giá năng lực, kết hợp kết quả thi tốt nghiệp THPT với các phương thức khác, sử dụng chứng chỉ quốc tế…

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn phát biểu tại phiên giải trình. Ảnh: Trọng Hiếu
Bộ trưởng cho rằng, với một ngành hoặc chương trình đào tạo, khi lựa chọn thí sinh cần có tiêu chí đánh giá thống nhất. Khi đã xác định yêu cầu về năng lực, kiến thức của người học, phương thức tuyển sinh về nguyên tắc cũng phải bảo đảm tính nhất quán. Nếu một trường sử dụng nhiều phương thức thì điểm chuẩn đầu vào giữa các phương thức phải bảo đảm mức độ tương đương.
Trên cơ sở phân tích dữ liệu tuyển sinh nhiều năm và kết quả học tập của học sinh, Bộ GD-ĐT cho rằng cần có lộ trình giảm số lượng phương thức tuyển sinh. Mục tiêu là với mỗi ngành, chương trình đào tạo, khi đã xác định được năng lực cần đánh giá và phương thức phù hợp nhất thì tiến tới sử dụng một phương thức phù hợp. Theo lộ trình, dự kiến từ năm 2027, mỗi ngành, chương trình được áp dụng tối đa 3 phương thức và đến năm 2028 còn 1 phương thức.
Về việc cộng điểm chứng chỉ, trong đó có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế như IELTS và cộng điểm học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, Bộ trưởng cho biết các điều chỉnh của Bộ được đưa ra trên cơ sở phân tích dữ liệu.
Theo đó, nếu một ngành, một trường yêu cầu năng lực tiếng Anh đầu vào thì Bộ GD-ĐT yêu cầu đưa tiếng Anh vào tổ hợp xét tuyển, coi đây là một tiêu chí xét tuyển chính thức. Trường hợp này, các chứng chỉ tiếng Anh vẫn có thể được quy đổi thành điểm để xét tuyển. Nhưng nếu chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm là một kiến thức được tính hai lần. Ngược lại, nếu tổ hợp xét tuyển không yêu cầu tiếng Anh nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh lại được cộng thêm điểm thì có thể tạo bất lợi cho những thí sinh khác.
Thực tế, có những ngành có điểm chuẩn lên tới 28 điểm nhưng cho phép cộng chênh lệch tới 1,5 điểm. Trong khoảng điểm từ 26,5 đến 28, có thể có hàng nghìn thí sinh không trúng tuyển dù có năng lực tiếng Anh nhưng không có điều kiện tham gia các kỳ thi chứng chỉ có chi phí cao.
Theo Bộ trưởng, việc học tiếng Anh vẫn có giá trị đối với quá trình học tập ở đại học và năng lực nghề nghiệp sau này. Việc không còn cơ chế cộng điểm chứng chỉ không đồng nghĩa với việc năng lực tiếng Anh không được sử dụng trong tuyển sinh; các chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi thành điểm ở những trường, ngành có yêu cầu.
Bộ trưởng khẳng định, Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục lắng nghe ý kiến của các bên và làm việc với chuyên gia để tiếp tục hoàn thiện chính sách, với mục tiêu đánh giá đúng năng lực và bảo đảm công bằng giữa các thí sinh.
