IPC E&C: Doanh nghiệp Việt đã sẵn sàng tiến vào thị trường điện gió tỷ đô

'Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp tương đối hoàn chỉnh đối với điện gió trên bờ và gần bờ. Gần như chúng ta chỉ chưa sản xuất được turbine trong nước', ông Nguyễn Ngọc Tú - Giám đốc Phát triển Kinh doanh IPC E&C nhận định.

Ông Nguyễn Ngọc Tú - Giám đốc Phát triển Kinh doanh IPC E&C

Ông Nguyễn Ngọc Tú - Giám đốc Phát triển Kinh doanh IPC E&C

Trong chia sẻ tại buổi thông tin báo chí về Hội nghị Năng lượng gió châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026) ngày 26/5, ông Tú cho rằng, động lực đầu tiên đến từ nhu cầu điện năng tăng mạnh trong dài hạn. Với mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong nhiều năm tới, nhu cầu điện của Việt Nam dự kiến sẽ tăng ở mức rất cao. Trong khi đó, dư địa cho các nguồn điện truyền thống ngày càng hạn chế.

Theo phân tích của đại diện IPC E&C, điện than đang đi tới lộ trình thu hẹp do cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), thủy điện không còn nhiều tiềm năng phát triển, còn LNG phụ thuộc lớn vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu với chi phí biến động mạnh. Trong bối cảnh đó, điện gió và điện mặt trời sẽ trở thành nguồn năng lượng chủ lực trong tương lai.

“Điều này mở ra dư địa rất lớn cho doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng. Hiện nay, từ các nhà thầu xây lắp, doanh nghiệp cơ khí, sản xuất cáp, tủ điện cho tới các đơn vị thi công hạ tầng, Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp tương đối hoàn chỉnh đối với điện gió trên bờ và gần bờ. Gần như chúng ta chỉ chưa sản xuất được turbine trong nước”, ông Tú cho biết.

Theo ông, các cấu phần như trụ tháp turbine hiện đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia sản xuất. IPC E&C cũng đã có kinh nghiệm trong vai trò tổng thầu thi công nhiều dự án điện gió trên bờ và gần bờ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, với điện gió ngoài khơi, điểm yếu lớn nhất của chuỗi cung ứng trong nước hiện nay là thiếu các phương tiện và thiết bị chuyên dụng phục vụ thi công ngoài biển xa.

Đó là các tàu cẩu siêu trường siêu trọng, tàu rải cáp công suất lớn hay các thiết bị phục vụ lắp đặt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt ngoài khơi. Đây đều là những hạng mục đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn cùng trình độ công nghệ cao.

Theo ông Tú, để giải quyết bài toán này, doanh nghiệp cần sự hỗ trợ từ chính sách, đặc biệt là cơ chế tín dụng và vốn vay ưu đãi để đầu tư thiết bị, công nghệ. Không chỉ các doanh nghiệp lớn như Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) với nền tảng hàng chục năm từ ngành dầu khí, mà cả các doanh nghiệp tư nhân muốn tham gia chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi cũng cần nguồn lực tài chính cực kỳ lớn.

Đại diện IPC E&C cho rằng nếu Quy hoạch Điện VIII thực sự tạo động lực để điện gió trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn mới, Việt Nam cần đầu tư bài bản cho cả chuỗi công nghiệp hỗ trợ đi kèm.

Cơ hội dành cho doanh nghiệp nội địa thực tế đã hiện hữu rất rõ. Chỉ riêng các dự án điện gió ngoài khơi xuất khẩu mà PTSC triển khai thời gian qua đã tạo việc làm cho hàng nghìn lao động và kéo theo hàng trăm doanh nghiệp tham gia trong nhiều năm. Một dự án thôi đã mang lại hàng nghìn việc làm cho hàng trăm doanh nghiệp. Tất cả cơ hội thực tế đã nằm ở đó.

Dù vậy, ông Tú cũng lưu ý rằng tham gia được vào chuỗi cung ứng không đồng nghĩa doanh nghiệp Việt đã làm chủ hoàn toàn công nghệ. Khối lượng công việc trong ngành điện gió là rất lớn, trong khi năng lực hiện nay mới tập trung ở một số ít doanh nghiệp.

Một trong những bài toán lớn nhất hiện nay là sản xuất turbine gió trong nước. Theo ông Tú, Việt Nam sở hữu tiềm năng thị trường rất lớn với quy mô phát triển lên tới hàng chục GW, nên việc tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào turbine nhập khẩu sẽ tạo ra áp lực lớn về chi phí và tính tự chủ.

Tuy nhiên, việc thu hút các hãng turbine quốc tế đầu tư sản xuất tại Việt Nam không hề đơn giản. Các tập đoàn nước ngoài luôn cân nhắc nhiều yếu tố như quy mô thị trường, ưu đãi đầu tư, chính sách thuế và khả năng cạnh tranh chi phí.

“Bây giờ thế giới đang chuyển từ toàn cầu hóa sang xu hướng tự chủ sản xuất. Các quốc gia đều muốn giữ năng lực sản xuất trong nước nên cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng khó hơn”, ông Tú phân tích.

Theo đại diện IPC E&C, Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo lộ trình nội địa hóa từng phần, bắt đầu từ các cấu kiện kỹ thuật không quá phức tạp như cột tháp thép, cánh turbine rồi tiến tới các hạng mục có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Điều quan trọng là cần tạo ra động lực đủ mạnh về chính sách để các nhà sản xuất quốc tế thấy được lợi ích khi đặt nhà máy tại Việt Nam thay vì chỉ xuất khẩu thiết bị từ nước khác vào thị trường nội địa.

Ông Tú cho rằng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở quy mô thị trường và khả năng tối ưu chi phí sản xuất. Với tiềm năng phát triển điện gió rất lớn, Việt Nam đang có cơ hội để từng bước xây dựng ngành công nghiệp năng lượng tái tạo mang tính tự chủ cao hơn, thay vì chỉ đóng vai trò thị trường tiêu thụ thiết bị nhập khẩu.

Diệu Đan

Nguồn PetroTimes: https://kinhtexaydung.petrotimes.vn/ipc-ec-doanh-nghiep-viet-da-san-sang-tien-vao-thi-truong-dien-gio-ty-do-741450.html