Kéo dài ưu đãi thuế xăng dầu: Thêm dư địa hỗ trợ sản xuất, kinh doanh
Bộ Tài chính đề xuất kéo dài thời hạn áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 30/9/2026. Đề xuất nhằm góp phần giảm chi phí vận tải, logistics; chi phí sản xuất - kinh doanh; hỗ trợ tâm lý người tiêu dùng và duy trì dư địa điều hành trong trường hợp giá dầu thế giới biến động tăng trở lại.
4 phương án kéo dài ưu đãi thuế xăng, dầu
Bộ Tài chính vừa có văn bản lấy ý kiến các cơ quan liên quan về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về kéo dài thời hạn áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN), thuế bảo vệ môi trường (BVMT), thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo Bộ Tài chính, việc xây dựng chính sách được đặt trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Mặc dù giá dầu thế giới đã giảm so với giai đoạn đỉnh điểm của xung đột tại Trung Đông, song vẫn cao hơn khoảng 20% so với thời điểm trước khi xảy ra chiến sự.

Giảm thuế nhập khẩu sẽ hạn chế tác động tăng giá xăng dầu đột ngột, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà phục hồi sản xuất kinh doanh. Ảnh: Đức Thanh
Cũng theo Bộ Tài chính, giá bán lẻ xăng dầu trong nước tuy đã hạ nhiệt, nhưng vẫn duy trì ở mức cao hơn đáng kể so với trước thời điểm xảy ra xung đột. Trên cơ sở đánh giá diễn biến thị trường xăng dầu, tình hình lạm phát và yêu cầu điều hành kinh tế vĩ mô, Bộ Tài chính đã xây dựng 4 phương án ưu đãi thuế với xăng dầu.
Phương án 1: Kéo dài việc giảm thuế nhập khẩu MFN là 0%, thuế BVMT là 0 đồng, không tính thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là 0% đối với xăng.
Phương án 2: Duy trì thuế nhập khẩu MFN ở mức 0%, thuế BVMT bằng 0 đồng, không tính thuế GTGT, nhưng khôi phục thuế TTĐB đối với xăng theo quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 66/2025/QH15 (xăng khoáng là 10%, xăng E5 là 8%, xăng E10 là 7%).
Việc tiếp tục duy trì thuế nhập khẩu MFN ở mức 0% nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung từ nhiều thị trường ngoài ASEAN, giảm rủi ro phụ thuộc vào một số nguồn nhập khẩu truyền thống, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.
Phương án 3: Kéo dài việc giảm thuế nhập khẩu MFN xuống 0%, giảm mức thu thuế BVMT xuống bằng mức sàn khung thuế suất, tương đương mức giảm khoảng 50%, không tính thuế GTGT, nhưng khôi phục áp dụng thuế TTĐB.
Phương án 4: Kéo dài việc giảm thuế nhập khẩu MFN xuống 0%, không tính thuế GTGT, áp dụng thuế TTĐB ở mức 5% và khôi phục mức thu thuế BVMT.
Cả 4 phương án đều được đề xuất áp dụng từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 30/9/2026. Tuy nhiên, sau khi phân tích tác động của từng phương án, Bộ Tài chính trình Chính phủ lựa chọn phương án 2. Theo phân tích của Bộ Tài chính, đây là phương án có tính trung hòa giữa mục tiêu giảm giá xăng dầu và bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước so với 3 phương án còn lại. Đồng thời, phương án này vẫn đạt mục tiêu hỗ trợ sản xuất, kinh doanh do thuế TTĐB không thu đối với dầu diesel là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất.
Hỗ trợ tâm lý cho người dân, doanh nghiệp
Bộ Tài chính cho biết, nếu thực hiện theo phương án đề xuất, giá xăng RON95/E10 dự kiến tăng khoảng 7%, xăng E5 tăng khoảng 8%, trong khi giá dầu diesel không thay đổi. Tính chung, mặt bằng giá xăng dầu bình quân tăng khoảng 5%, làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng khoảng 0,11 điểm phần trăm. Mức tác động này thấp hơn đáng kể so với trường hợp khôi phục ngay toàn bộ các sắc thuế về mức trước khi thực hiện chính sách hỗ trợ.
Dự kiến thực hiện theo phương án 2 mà Bộ Tài chính đề xuất sẽ làm giảm thu ngân sách nhà nước khoảng 15.400 tỷ đồng. Bộ Tài chính cho rằng, đây là mức giảm cần thiết nhằm hạn chế tác động tăng giá xăng dầu đột ngột, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà phục hồi sản xuất, kinh doanh và bảo đảm an ninh năng lượng.
Theo Bộ Tài chính, thực tế, trong thời gian áp dụng các chính sách hỗ trợ hiện hành, ngân sách nhà nước đã giảm thu đáng kể từ các sắc thuế liên quan đến xăng dầu. Tính đến hết ngày 30/6/2026, số giảm thu từ thuế nhập khẩu đối với xăng dầu ước khoảng 2.021 tỷ đồng, tương đương khoảng 500 tỷ đồng mỗi tháng.
Đối với thuế BVMT, thuế GTGT và thuế TTĐB, số giảm thu ngân sách ước khoảng 22.000 tỷ đồng trong hơn 3 tháng thực hiện, tương đương khoảng 7.300 tỷ đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, việc từng bước khôi phục một số sắc thuế cũng góp phần tạo dư địa tăng thu ngân sách nhà nước trong những tháng cuối năm.
Phân tích các yếu tố tác động đến người tiêu dùng, Bộ Tài chính cho biết, việc tiếp tục không tính thuế GTGT và áp dụng thuế BVMT 0 đồng đến hết ngày 30/9/2026 góp phần hạn chế tăng giá bán lẻ xăng dầu, giảm áp lực chi phí đi lại, tiêu dùng và tâm lý kỳ vọng lạm phát.
Đối với doanh nghiệp, việc duy trì thuế nhập khẩu ưu đãi ở mức 0% giúp doanh nghiệp đầu mối có thêm lựa chọn thị trường nhập khẩu, chủ động nguồn hàng và giảm rủi ro phụ thuộc vào một số đối tác truyền thống.
Đáng chú ý, việc thuế TTĐB chỉ áp dụng đối với xăng, không áp dụng đối với dầu diesel, góp phần hạn chế tác động trực tiếp tới các ngành sản xuất, vận tải, logistics và khai thác thủy sản sử dụng chủ yếu nhiên liệu diesel.
Cùng với việc đề xuất kéo dài thời hạn thực hiện chính sách giảm thuế, Bộ Tài chính cũng đề xuất Chính phủ giao Bộ Công thương nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phương án trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu phù hợp nhằm hạn chế tác động đến lạm phát và hỗ trợ công tác điều hành giá trong thời gian tới.
Đánh giá về đề xuất này của Bộ Tài chính, ông Phạm Thế Hồng - Phó Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư thương mại và vận tải du lịch HD cho rằng, mặt hàng xăng dầu là chi phí đầu vào thiết yếu của hầu hết các ngành sản xuất, theo đó, chỉ cần một thay đổi nhỏ từ giá dầu thế giới cũng đủ tạo ra phản ứng dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế. Biến động giá xăng dầu tác động rất mạnh đến những nhóm ngành chịu áp lực lớn là vận tải và logistics, ngành có chi phí nhiên liệu chiếm đến 35 - 40% giá dịch vụ vận tải.
“Việc tiếp tục cho kéo dài chính sách giảm thuế đối với xăng, dầu là bước đi phù hợp, thể hiện rõ sự chuyển biến trong tư duy điều hành từ bị động ứng phó sang chủ động thích ứng với các cú sốc bên ngoài. Việc giảm thuế đã góp phần hạ chi phí đầu vào, giúp duy trì hoạt động và ổn định kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Khi được điều chỉnh hợp lý, công cụ này giúp giảm áp lực tăng giá trong nước, hạn chế tác động lan tỏa đến lạm phát, hỗ trợ tâm lý cho người dân và doanh nghiệp” - ông Phạm Thế Hồng nhấn mạnh.











