Kết nối dữ liệu, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp
Hà Nội định hướng hỗ trợ nông dân, hợp tác xã ứng dụng công nghệ số theo hướng thực hành trực tiếp, xuất phát từ nhu cầu sản xuất thực tế. Thành phố đặt mục tiêu kết nối dữ liệu, giảm kê khai trùng lặp và chi phí cho người sản xuất…
Từ nhật ký sản xuất, quản lý lô hàng đến truy xuất nguồn gốc và quảng bá trên nền tảng số, công nghệ đang giúp các hợp tác xã, hộ sản xuất nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch thông tin và tiếp cận thị trường. Với Hà Nội, số hóa nông nghiệp còn góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và gia tăng giá trị nông sản; trong đó, hiệu quả truy xuất không chỉ phụ thuộc vào mã QR mà còn ở độ chính xác của dữ liệu.
SỐ HÓA SẢN XUẤT TỪ NHỮNG VIỆC THIẾT THỰC
Thực tế tại Hợp tác xã sản xuất tinh bột nghệ và tinh dầu Bà Bé, xã Gia Lâm, cho thấy nhu cầu ứng dụng công nghệ đã xuất hiện từ những công việc cơ bản. Hợp tác xã mong muốn số hóa quy trình sản xuất, quản lý thông tin sản phẩm và hỗ trợ tiêu thụ. Tuy nhiên, với một số hội viên lớn tuổi, việc sử dụng điện thoại thông minh và phần mềm vẫn là trở ngại.
Từ thực tế này, tại Hội nghị Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đối thoại với nông dân Thủ đô năm 2026, ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, cho rằng chuyển đổi số tại các hợp tác xã quy mô nhỏ phải bắt đầu từ nhu cầu cụ thể của người sản xuất, tập trung vào ghi chép sản xuất, quản lý lô hàng, truy xuất nguồn gốc và giới thiệu, bán sản phẩm.
Theo ông Trang, đối với Hợp tác xã Bà Bé, Sở sẽ phối hợp với UBND xã Gia Lâm và Hội Nông dân khảo sát trực tiếp, xác định công cụ cần thiết, thiết bị có thể tận dụng, chi phí dự kiến và chính sách hỗ trợ phù hợp. Mục tiêu là lựa chọn giải pháp vừa với điều kiện sản xuất và khả năng sử dụng của người dân, tránh đầu tư vượt quá nhu cầu thực tế.

Ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, trả lời tại Hội nghị. Ảnh: Xuân Hải
Việc hướng dẫn cũng được thiết kế theo hướng thực hành trực tiếp. Thay vì chỉ giới thiệu tính năng phần mềm, cán bộ sẽ cùng người dân ghi nhật ký một ngày sản xuất, lập hồ sơ cho một lô tinh bột nghệ hoặc tinh dầu, tạo mã QR và kiểm tra thông tin truy xuất.
“Cách đào tạo sẽ là cầm tay chỉ việc, thực hành ngay trên sản phẩm của hợp tác xã”, ông Trang nhấn mạnh.
Với những thành viên lớn tuổi, phần mềm cần có chữ dễ đọc, ít thao tác và mẫu điền sẵn. Hợp tác xã có thể bố trí người phụ trách dữ liệu hỗ trợ các thành viên, kết hợp với lực lượng chuyển đổi số cộng đồng. Sau hướng dẫn ban đầu, cần duy trì đầu mối hỗ trợ để người dân có thể xử lý những vướng mắc trong quá trình sử dụng.
Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào khả năng vận hành thực tế, thay vì chỉ đánh giá kết quả bằng số lượng thiết bị hoặc phần mềm được triển khai. Dữ liệu ghi nhận cũng phải phản ánh đúng hoạt động sản xuất và được người sản xuất xác nhận, bảo đảm hồ sơ số có giá trị sử dụng.
KẾT NỐI DỮ LIỆU, GIẢM CHI PHÍ VÀ THỦ TỤC
Bên cạnh kỹ năng sử dụng, chi phí là rào cản đáng kể đối với các hợp tác xã nhỏ. Chi phí không chỉ nằm ở đầu tư ban đầu mà còn ở việc duy trì phần mềm, cập nhật dữ liệu và hỗ trợ kỹ thuật. Vì vậy, lựa chọn công nghệ cần tính đến khả năng sử dụng lâu dài, không chỉ dựa vào việc được cung cấp miễn phí trong giai đoạn đầu.
Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ chuyển đổi số, trong đó có các nội dung hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ số và thiết bị số cho những đối tượng đáp ứng điều kiện quy định. Theo ông Cù Ngọc Trang, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện, danh mục và quy trình để người dân tiếp cận chính sách; đồng thời rà soát các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp công nghệ cung cấp miễn phí nhằm giới thiệu giải pháp phù hợp.
“Bà con cần biết đầy đủ chi phí trước khi quyết định sử dụng”, ông Trang lưu ý.
Theo đó, thời gian miễn phí, chi phí duy trì sau hỗ trợ, trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật và khả năng chuyển dữ liệu sang phần mềm khác cần được công khai để hợp tác xã chủ động lựa chọn, tránh phát sinh chi phí ngoài dự kiến hoặc phụ thuộc vào một nền tảng.
Một yêu cầu khác là hạn chế tình trạng cùng một thông tin phải kê khai nhiều lần trên các hệ thống khác nhau. Nếu dữ liệu về hợp tác xã, vùng sản xuất, sản phẩm và hồ sơ chất lượng bị phân tán, mỗi nền tảng yêu cầu một tài khoản và bộ biểu mẫu riêng, chuyển đổi số có thể làm tăng khối lượng công việc thay vì giảm thủ tục.
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đánh giá kiến nghị giảm nhập liệu nhiều lần là xác đáng. Hướng xử lý là chuẩn hóa dữ liệu tại nguồn, cho phép sử dụng lại thông tin đã có và chỉ cập nhật những nội dung mới hoặc thay đổi.
Sở sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường chuẩn hóa thông tin về hợp tác xã, vùng nguyên liệu, sản phẩm và lô hàng; từng bước kết nối nhật ký sản xuất với hồ sơ kiểm nghiệm, chứng nhận và mã QR truy xuất nguồn gốc, trên cơ sở tận dụng các nền tảng hiện có và khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống.
Chẳng hạn, với một lô tinh bột nghệ của Hợp tác xã Bà Bé, thông tin về nguồn nguyên liệu, ngày tiếp nhận, quá trình chế biến, đóng gói và kết quả kiểm nghiệm có thể được liên kết trong cùng một hồ sơ. Người mua tiếp cận những thông tin được phép công khai qua mã QR, trong khi cơ quan quản lý khai thác dữ liệu theo thẩm quyền.
Ông Trang cũng lưu ý mã QR không thay thế kiểm nghiệm hay chứng nhận chất lượng. Giá trị của truy xuất nguồn gốc nằm ở dữ liệu chính xác, được cập nhật và có đơn vị chịu trách nhiệm.
Về triển khai, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ làm đầu mối đối với phần công nghệ và chuyển đổi số, phối hợp với địa phương, Hội Nông dân và ngành nông nghiệp xây dựng phương án hỗ trợ, theo dõi quá trình sử dụng và xử lý vướng mắc kỹ thuật.
Kết quả được đánh giá bằng những thay đổi cụ thể: người dân sử dụng được phần mềm, hồ sơ truy xuất đầy đủ hơn, số lần nhập lại thông tin giảm và thời gian ghi chép, quản lý được rút ngắn.
