Khai thác bối cảnh di sản trong điện ảnh: Đánh đổi ngắn hạn hay đồng hành bền vững?
(NB&CL) Sự bùng nổ của các dự án điện ảnh lấy bối cảnh tại các không gian di sản đang mở ra cơ hội lớn cho công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Những không gian di tích, làng cổ, cảnh quan văn hóa không chỉ tạo nên sức hấp dẫn thị giác cho tác phẩm mà còn mở ra cơ hội quảng bá di sản, thúc đẩy du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, bài toán đặt ra là làm thế nào để nhu cầu sáng tạo của điện ảnh không trở thành áp lực lên di sản, từ đó mở ra hướng khai thác bền vững và lâu dài?
điện ảnh Việt Nam
Áp lực khi di sản “mở cửa” cho điện ảnh
Câu chuyện về ranh giới giữa sáng tạo và bảo tồn di sản từng được cảnh báo từ một sự việc xảy ra tại Hàn Quốc đầu năm 2025: Một đoàn làm phim của đài KBS đã đóng đinh vào các cột gỗ tại Học viện Nho giáo Byeongsan Seowon - di sản thế giới được UNESCO công nhận - để phục vụ việc ghi hình. Vụ việc ngay lập tức gây làn sóng phẫn nộ trong dư luận Hàn Quốc, khiến chính quyền thành phố Andong quyết định khởi kiện đoàn phim.
Tại tọa đàm “Điện ảnh và Di sản - Từ ươm mầm tài năng đến phát triển công nghiệp sáng tạo”, nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc dẫn trường hợp này để đặt câu hỏi: Một di tích đã tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm, phải ứng xử thế nào trước một đoàn phim với hàng trăm con người và hàng tấn thiết bị?

Đoàn làm phim “Mưa đỏ” dựng phim trường riêng rộng tới 50 ha thay vì quay trực tiếp tại di tích Thành cổ Quảng Trị nhằm bảo tồn và tránh gây ảnh hưởng đến di tích. Ảnh: ĐPCC
TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết, mỗi năm đơn vị đón khoảng 30-40 đoàn làm phim, trong đó có nhiều đoàn quốc tế. Quan điểm của Trung tâm là bảo vệ giá trị và tính tôn nghiêm của di tích nhưng không biến bảo tồn thành rào cản tuyệt đối đối với sáng tạo.
“Những gì có thể tạo điều kiện mà vẫn giữ được di sản thì chúng tôi đồng ý; những gì khó thì cùng tìm giải pháp, còn những gì ảnh hưởng nghiêm trọng đến di tích thì kiên quyết không đồng ý”, ông Kiêu cho hay.
Nguyên tắc ấy tưởng như rõ ràng, nhưng khi đi vào thực tế, vấn đề lại trở nên phức tạp: khi nào thì đơn vị quản lý di tích “có thể tạo điều kiện” và ở mức độ nào thì được xác định là “ảnh hưởng nghiêm trọng”?
Đây cũng là “khoảng trống” mà các nhà làm phim đang phải tự xoay xở. Nhà quay phim K’Linh Nguyễn chia sẻ, khi thực hiện phim “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” tại Ninh Bình, ê-kíp phải tự đặt ra ba giới hạn cho toàn bộ ê-kíp: Những gì được phép chạm vào, những gì có thể đặt thiết bị và những gì tuyệt đối không được chạm tới.
Một bài toán, nhiều cách giải
Thực tế cho thấy, một bộ phim có thể chỉ cần một cảnh quay vài phút, nhưng để có cảnh quay ấy là cả một ê-kíp, hệ thống máy móc, đạo cụ và quá trình vận hành không ngắn. Khi thiếu một “luật chơi” chung, trách nhiệm bảo vệ di sản dễ phụ thuộc vào sự chủ động của từng đoàn phim và cách xử lý của từng đơn vị quản lý di sản.
Thảo luận mở rộng nội dung này, bà Phạm Thị Thanh Hường, Trưởng Ban Văn hóa của Văn phòng UNESCO tại Hà Nội cho rằng, cách tiếp cận phù hợp không phải là “đóng băng” di sản. Di sản không nên được coi là “bất khả xâm phạm” hay hoàn toàn không thể đụng chạm, mà cần được tiếp cận một cách có trách nhiệm. UNESCO không cấm việc quay phim tại bất kỳ di sản nào, thậm chí, việc quay phim còn được khuyến khích nhằm làm nổi bật giá trị toàn cầu của những di sản đã được UNESCO công nhận. Tuy nhiên, để cân bằng giữa bảo tồn và sáng tạo, mỗi quốc gia lại lựa chọn cách tiếp cận khác nhau.
Bà Hường dẫn chứng, Trung Quốc hạn chế hoạt động quay phim thương mại tại các điểm di sản, nhưng thay vào đó, nước này đầu tư hệ thống phim trường quy mô lớn, trong đó có Hoành Điếm. Với diện tích hơn 3,3km², nơi đây có nhiều công trình được xây dựng theo tỷ lệ 1:1, tái hiện các bối cảnh trải dài khoảng 5.000 năm lịch sử, tạo không gian thay thế cho các đoàn phim và hạn chế áp lực lên di tích thực.

Cảnh quay trong phim “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” thực hiện tại tỉnh Ninh Bình. Ảnh: ĐPCC
Hàn Quốc lại lựa chọn hướng cởi mở hơn, cho phép quay phim tại các di tích nhằm tận dụng sức mạnh của điện ảnh trong quảng bá văn hóa và thúc đẩy du lịch. Cơ quan quản lý còn có chính sách hỗ trợ, bồi hoàn và ưu đãi đối với các đoàn phim quay tại di sản. Campuchia cho thấy một hướng đi khác khi xây dựng khung quản lý cụ thể. Theo bà Hường, quốc gia này đã ban hành bộ quy định và hướng dẫn thực hiện hoạt động quay phim gắn với di sản vào năm 2024.
Đặt trong tương quan ấy, Việt Nam đang đứng trước một “khoảng trống” khi chưa có hạ tầng trường quay quy mô như Trung Quốc, trong khi thực tế lại đang có xu hướng tham khảo mô hình cởi mở của Hàn Quốc, nhưng các quy định và hướng dẫn cụ thể cho hoạt động quay phim trong di tích, di sản vẫn chưa đầy đủ.
Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc lựa chọn “mô hình Trung Quốc” hay “mô hình Hàn Quốc”, mà là xác định cách thức phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, đồng thời xây dựng công cụ đủ rõ để biến thành quy trình có thể thực thi. Một cơ chế rõ ràng sẽ giúp đơn vị quản lý di sản không phải xử lý từng trường hợp theo kinh nghiệm, còn đoàn phim cũng không phải tự “dò dẫm” trong quá trình sản xuất.
Điện ảnh mang lại gì cho di sản?
Theo TS Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Phát triển Điện ảnh Việt Nam, điện ảnh không chỉ ghi lại hay minh họa di sản mà có thể khơi mở những câu chuyện, tái hiện ký ức, làm sống động những giá trị tưởng như đã quen thuộc và đưa chúng đến với công chúng bằng một cách nhìn mới. Theo bà, câu chuyện không chỉ dừng ở việc đưa di sản lên màn ảnh mà cần hướng tới câu hỏi rộng hơn: Làm thế nào để những giá trị lịch sử, văn hóa trở thành chất liệu cho sáng tạo; làm thế nào để giá trị tạo ra từ điện ảnh có thể quay trở lại với di sản, cộng đồng và địa phương?
Nhìn ra thế giới, Film induced tourism (Du lịch do ảnh hưởng của phim) từ lâu không còn là hiệu ứng truyền thông ngẫu nhiên mà đã được nhiều quốc gia quy hoạch thành chiến lược.
Tại New Zealand, phim “The Lord of the Rings” (Chúa tể những chiếc nhẫn) là một minh chứng. Thay vì tháo dỡ bối cảnh sau khi đóng máy, chính quyền địa phương và nhà sản xuất đạt thỏa thuận giữ lại, gia cố trường quay Hobbiton thành điểm đến du lịch cố định. Ngôi làng Matamata từ một vùng nông thôn trở thành điểm đến thu hút khách quốc tế, đóng góp vào phát triển hạ tầng và bảo tồn cảnh quan địa phương.
Tại Hàn Quốc, các trường quay như Yongin Daejanggeum Park hay Mungyeong Saejae không chỉ phục vụ ghi hình mà còn được thiết kế như những “bảo tàng mở”. Du khách có thể trải nghiệm mặc Hanbok, tham gia các nghi lễ truyền thống và tìm hiểu lịch sử đất nước này. Nguồn thu từ vé tham quan và dịch vụ phụ trợ được trích quay trở lại duy tu các công trình kiến trúc mô phỏng.
Những câu chuyện thành công cũng như bài học từ quốc tế cho thấy, điện ảnh chỉ có thể tạo ra sức hút ban đầu; để sức hút ấy trở thành giá trị du lịch và nguồn lực tái đầu tư cho di sản đòi hỏi tầm nhìn quy hoạch, cơ chế hợp tác rõ ràng và cách quản lý dài hạn của địa phương.
Vì thế, vấn đề không phải là có khai thác di sản cho điện ảnh hay không, mà là khai thác thế nào để điện ảnh tạo thêm giá trị thay vì gây áp lực lên di sản. Khi có quy định phù hợp, trách nhiệm cụ thể và một chiến lược khai thác có kiểm soát, di sản xuất hiện trên màn ảnh không chỉ phục vụ một tác phẩm điện ảnh, mà còn có thể mở ra những câu chuyện mới về văn hóa, cộng đồng và điểm đến. Khi đó, điện ảnh không đơn thuần “mượn” di sản để kể chuyện, mà trở thành một cách đưa di sản đến gần hơn với đời sống đương đại, đồng thời tạo thêm nguồn lực để gìn giữ và phát huy những giá trị đã được trao truyền qua nhiều thế hệ.
