Khẳng định giá trị đặc biệt của căn cứ Khu ủy Khu 5
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, căn cứ Khu ủy Khu 5 là nơi đặt cơ quan đầu não, giữ vai trò trung tâm lãnh đạo cách mạng của chiến trường Khu 5. Theo thời gian, nhiều tư liệu tiếp tục được các nhà nghiên cứu, nhân chứng làm sáng tỏ, qua đó khẳng định vị thế đặc biệt của di tích trong dòng chảy lịch sử dân tộc.

Một góc Khu di tích An ninh khu 5, thuộc quần thể Khu di tích Khu ủy khu 5 (xã Trà Tân). Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Đầu não chiến lược Khu 5
Vùng núi phía tây Đà Nẵng từng là địa bàn đứng chân, xây dựng căn cứ, chỉ đạo phong trào cách mạng toàn Khu 5. Qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống căn cứ Khu ủy Khu 5 gắn với nhiều địa điểm quan trọng như: Nước Là (xã Nam Trà My), Nước Oa (xã Trà Tân) và Phước Trà (xã Phước Trà). Đây là chỉnh thể căn cứ liên hoàn, thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo linh hoạt của Khu ủy Khu 5 trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Theo tư liệu lịch sử, từ sau năm 1955, Liên khu ủy đã di chuyển cơ quan từ phía tây Thừa Thiên vào khu vực Bến Hiên, Bến Giằng, từng bước hình thành hệ thống căn cứ phục vụ chỉ đạo kháng chiến lâu dài. Giai đoạn 1959 - 1964, Khu ủy xây dựng căn cứ Nước Là, mở đầu thời kỳ hoạt động quan trọng của cơ quan đầu não tại vùng rừng núi Quảng Nam.
Từ năm 1964 - 1973, cơ quan Khu ủy tiếp tục cơ động qua nhiều địa bàn. Đầu năm 1973, căn cứ Nước Oa được xây dựng, giữ vai trò trung tâm chỉ đạo sau Hiệp định Paris. Từ cuối năm 1973 đến năm 1975, cơ quan Khu ủy chuyển về Phước Trà, tiếp tục lãnh đạo toàn diện các hoạt động quân sự, chính trị, binh vận, chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Trong quá trình hoạt động, hệ thống các ban chuyên môn như Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Quân sự, Ban Kinh tài, Ban Dân vận… từng bước được củng cố, hoàn thiện, bảo đảm vai trò tham mưu cho công tác lãnh đạo kháng chiến.
Tại Nước Là, nhiều sự kiện quan trọng gắn với việc triển khai Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, đánh dấu bước chuyển của cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới. Đây cũng là nơi tiếp nhận lực lượng cán bộ, bộ đội từ miền Bắc chi viện, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang Khu 5, hình thành Ban Quân sự Khu 5 là tiền thân của Bộ Tư lệnh Quân khu 5.
Căn cứ Nước Oa giữ vai trò trung tâm chỉ đạo trong giai đoạn sau Hiệp định Paris 1973. Tại đây diễn ra nhiều cuộc họp giữa Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nhằm thống nhất chủ trương, kế hoạch chiến lược trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến.

Khách tham quan di tích căn cứ Khu ủy Khu 5. Ảnh: K.L
Tại Phước Trà, tháng 12/1973, Đại hội lần thứ III của Ban Chấp hành Khu ủy Khu 5 được tổ chức. Đại hội quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, xác định nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, binh vận và ngoại giao, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế và lực cho tổng tiến công và nổi dậy.
Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 38 đồng chí, Ban Thường vụ 9 đồng chí; đồng chí Võ Chí Công giữ chức Bí thư Khu ủy, đồng chí Chu Huy Mân làm Phó Bí thư kiêm Tư lệnh Quân khu 5.

Các cán bộ về thăm, ôn lại chuyện xưa tại di tích căn cứ Khu ủy khu 5. Ảnh: XUÂN HIỀN
Hệ thống căn cứ liên hoàn
Nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh (Hội Di sản văn hóa thành phố) cho rằng, hệ thống căn cứ cách mạng Khu 5 là biểu tượng của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong cuộc đối đầu không cân sức với một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Trong điều kiện bom đạn ác liệt, các căn cứ vẫn tồn tại, phát triển và ngày càng được củng cố.
Từ Nước Là, Nước Oa đến Phước Trà, hệ thống căn cứ trở thành biểu tượng của ý chí độc lập dân tộc, tư duy chiến lược và nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Việc lựa chọn vùng núi Trà My - Hiệp Đức làm căn cứ địa thể hiện tầm nhìn chiến lược, tận dụng địa hình rừng núi hiểm trở để xây dựng thế trận vững chắc, vừa bảo vệ cơ quan đầu não, vừa phát triển lực lượng.
Theo ông Tịnh, các căn cứ luôn gắn chặt với nhân dân. Đồng bào Ca Dong, Co, Bh’noong, Xơ Đăng… tham gia che chở cán bộ, vận chuyển lương thực, tải thương, xây dựng cơ sở cách mạng, hình thành “thế trận lòng dân” bền vững, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ căn cứ. “Điểm đặc biệt của hệ thống không nằm ở từng địa điểm riêng lẻ mà ở tính liên hoàn, kế thừa và phát triển chiến lược, tạo thành chỉnh thể thống nhất trong hơn 15 năm kháng chiến, hình thành trục chỉ huy giữa miền núi và đồng bằng, hậu phương và tiền tuyến”, ông Tịnh nói.
Trong ký ức của bà Hồ Thị Kim Thanh, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng khu 5 (1966 - 1975), Khu 5 là chiến trường ác liệt nhưng cũng thể hiện rõ bản lĩnh và ý chí kiên cường.
Giai đoạn sau Nghị quyết 15, phong trào cách mạng miền Trung - Tây Nguyên chuyển biến mạnh; từ năm 1961 cơ sở được củng cố; năm 1965 khi Mỹ đổ quân vào Chu Lai - Đà Nẵng, chiến tranh cục bộ mở rộng, phong trào đánh Mỹ phát triển mạnh, tiêu biểu là trận Núi Thành, góp phần vào Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 và các chiến dịch sau đó.
Giai đoạn 1972 - 1975, Khu 5 giữ vai trò quan trọng trong chỉ đạo chiến trường miền Trung - Tây Nguyên, góp phần giải phóng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế và Đà Nẵng. Ngày 29/3/1975, Quảng Nam - Đà Nẵng được giải phóng, sau đó là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, thống nhất đất nước.

Các nhà nghiên cứu, nhân chứng lịch sử tham dự tọa đàm khoa học “Tham vấn ý kiến chuyên gia, nhân chứng lịch sử về giá trị lịch sử đặc biệt của di tích Căn cứ Khu ủy Khu 5”. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Giá trị lịch sử đặc biệt
Ông Phạm Thông, nguyên cán bộ Tuyên huấn Khu 5 nhận định, Khu 5 cùng với Trung ương Cục miền Nam là hai trung tâm chủ yếu của kháng chiến chống Mỹ, chiếc nôi lớn của phong trào kháng chiến tại miền Nam. Căn cứ địa Khu 5 là một trong những di tích có tầm vóc lịch sử đặc biệt quan trọng. Trong suốt 20 năm, từ đây đã phát đi các mệnh lệnh chỉ đạo kháng chiến tại khúc ruột miền Trung. Đây được xem như “bức thành đồng” vững chắc, bền bỉ trong suốt thời kỳ kháng chiến lâu dài.
“Quảng Nam là vùng đất chịu nhiều tổn thất nặng nề trong chiến tranh, có số lượng liệt sĩ nhiều nhất, Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất, số lượng thương binh cũng lớn nhất. Nhân dân Quảng Nam đã hy sinh vô cùng to lớn. Trong bối cảnh đó, căn cứ địa Khu ủy Khu 5 vẫn đứng vững trên mảnh đất này cho đến ngày kháng chiến thành công, trở thành niềm tự hào lớn của đất và người xứ Quảng. Từ giá trị lịch sử đó, việc nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng căn cứ địa Khu 5 cần được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện tương xứng với tầm vóc của di tích trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc”, ông Thông nói.
TS. Lưu Anh Rô, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội khoa học lịch sử thành phố cho rằng, hệ thống căn cứ Khu ủy Khu 5 là mảnh ghép quan trọng trong hệ thống di tích quốc gia đặc biệt về căn cứ địa cách mạng Việt Nam, cùng An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên) và Trung ương Cục miền Nam, tạo nên trục căn cứ địa xuyên suốt Bắc - Nam.
Nếu An toàn khu Định Hóa là “thủ đô kháng chiến” miền Bắc, Trung ương Cục miền Nam là đầu não Nam Bộ thì Khu 5 giữ vai trò cầu nối chiến lược trên dãy Trường Sơn, bảo đảm sự thông suốt tuyến chi viện Bắc - Nam. Đặc biệt, giai đoạn 1973 - 1975, Phước Trà là nơi quán triệt Nghị quyết 21, chỉ đạo chuẩn bị Tổng tiến công Xuân 1975.
Theo TS. Lưu Anh Rô, hệ thống căn cứ Khu ủy Khu 5 đáp ứng tiêu chí di tích quốc gia đặc biệt về tính xác thực và toàn vẹn, còn lưu giữ địa hình rừng núi, suối nguồn, đường giao liên, lán trại, hầm hào và không gian lịch sử cách mạng. Giá trị di tích thể hiện ở mô hình căn cứ địa “liên hoàn - cơ động - bí mật - tự lực”, là minh chứng tiêu biểu của nghệ thuật chiến tranh nhân dân hiện đại. Đây cũng là không gian có giá trị giáo dục truyền thống sâu sắc, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc cho thế hệ hôm nay.
Với chặng đường lịch sử đặc biệt, Đảng và Nhà nước đã công nhận 3 khu di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, gồm: Khu di tích Nước Là (2008), Khu di tích Nước Oa (1992), Khu di tích Phước Trà (1993).
Đồng thời, có 11 xã An toàn khu và 8 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, gồm: Văn phòng Khu ủy Khu 5, Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức, Ban Tài mậu, Ban Dân y, Phụ nữ Khu 5, D10 và C.32 (thuộc D10).
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/khang-dinh-gia-tri-dac-biet-cua-can-cu-khu-uy-khu-5-3339368.html











