Khát vọng thuận thiên và sứ mệnh làm 'trụ đỡ' thế kỷ

Sự tương tác giữa canh tác bền vững, bảo tồn hệ sinh thái và ứng phó với thiên tai khốc liệt chính là chìa khóa cho bài toán an ninh lương thực.

Ngành nông nghiệp được khẳng định vị thế quan trọng là trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Ảnh minh họa.

Ngành nông nghiệp được khẳng định vị thế quan trọng là trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Ảnh minh họa.

Triết lý phát triển bền vững

Môi trường là tổng hòa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh sự sống của con người, có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát triển của xã hội. Môi trường không chỉ có vai trò quan trọng trong cung cấp tài nguyên và lương thực, thực phẩm để đảm bảo sự sinh tồn của con người, mà còn tiếp nhận xử lý chất thải do hoạt động của con người tạo ra và điều hòa khí hậu, bảo vệ con người khỏi thiên tai, dịch bệnh.

Tuy nhiên, chính các hoạt động sinh tồn và phát triển của nhân loại, nhất là việc đốt nhiên liệu hóa thạch cho năng lượng, công nghiệp, giao thông và chất thải từ phương thức canh tác cũ đã góp phần làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên. Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng ngày càng diễn ra khốc liệt, tác động trực tiếp đến suy thoái hệ sinh thái và đe dọa không gian sinh tồn.

Chính vì vậy, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững luôn có mối quan hệ tương hỗ với nhau, vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng để đất nước phát triển bền vững. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO), nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ thuật và các yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và dịch vụ của con người, đồng thời đảm bảo khả năng duy trì các nguồn lực và hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, thực phẩm, cân bằng hệ sinh thái nhưng cũng là ngành sản xuất cơ bản dựa vào đất, nước, khí hậu và các chức năng được tạo ra từ sự tương tác giữa các thành tố của tự nhiên.

Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp được khẳng định vị thế quan trọng là trụ đỡ của nền kinh tế, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Nông nghiệp Việt Nam đóng góp gần 12% GDP và thu hút 25% lực lượng lao động cả nước, là ngành kinh tế chủ lực trong tạo việc làm ở khu vực nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cho trên 100 triệu người dân. Sự phát triển của nông nghiệp trong những thập kỷ vừa qua đã đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành quốc gia đảm bảo đủ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu hàng đầu thế giới.

Đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên bản đồ thương mại toàn cầu, với nhiều mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, cao su và thủy sản. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 70,09 tỷ USD, trong đó các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD; lâm sản đạt 18,5 tỷ USD; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, mang lại mức xuất siêu kỷ lục 20,7 tỷ USD. Nông nghiệp cũng đóng vai trò ổn định xã hội và giảm nghèo, là nguồn thu nhập chính cho hơn 60% dân số nông thôn, góp phần làm cải thiện đáng kể hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao mức sống thông qua các Chương trình Mục tiêu quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam nhấn mạnh, nông nghiệp bền vững là phương thức sản xuất nông nghiệp cân bằng, tích hợp đa giá trị tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới, giá trị gia tăng mới, việc làm mới, cơ hội xuất khẩu cho nền kinh tế và đảm bảo lợi nhuận cho người sản xuất. Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khôn ngoan sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi của hệ sinh thái, đảm bảo sự công bằng, cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nông dân.

Cuộc cách mạng xanh hóa toàn diện

Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 150/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái thông qua áp dụng các tiêu chuẩn canh tác bền vững, nông nghiệp tuần hoàn, thông minh. Trên cơ sở đó, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đã có những bước chuyển mình ngoạn mục.

Về trồng trọt, cơ cấu cây trồng được chuyển đổi hiệu quả hơn theo hướng tập trung xây dựng các vùng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi. Kết quả là sản lượng lương thực có hạt năm 2024 ước đạt 48,1 triệu tấn, tăng 0,4%, và giá trị một ha đất trồng trọt năm 2024 ước đạt 127 triệu đồng, tăng 7,4% so với năm 2023. Diện tích canh tác hữu cơ tăng từ 53.000 ha năm 2016 lên khoảng 500.000 ha vào năm 2023, đưa Việt Nam đứng thứ 5 các quốc gia có diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Châu Á.

Các quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, an toàn, hữu cơ, như ba giảm ba tăng, một phải năm giảm, xuống giống tập trung né rầy, giảm lượng giống gieo sạ, bón phân theo chuyên vùng, tưới nước tiết kiệm được phát triển, nhân rộng. Công tác bảo vệ thực vật, quản lý phân bón yêu cầu hiệu quả hơn theo hướng nâng cao chất lượng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Tỷ lệ sản phẩm phân bón hữu cơ được phép lưu hành trong tổng lượng phân bón hằng năm đạt khoảng 27%, và tỷ lệ thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng đạt trên 30%.

Đặc biệt, Đề án phát triển một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg sau hai năm triển khai đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất khả quan. Đề án đã hình thành trên 200 nghìn ha vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp, tập trung tại các tỉnh sản xuất lúa trọng điểm.

Việc áp dụng đồng bộ các quy trình canh tác bền vững giúp giảm 30 - 40% lượng giống gieo sạ, 15 -30% phân bón hóa học, 20-30% thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm chi phí sản xuất bình quân 1,7 - 3,0 triệu đồng/ha/vụ. Năng suất lúa tăng 0,2 - 0,5 tấn/ha, lợi nhuận của nông dân tăng 15 - 25% so với canh tác truyền thống, đồng thời phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí mê-tan, giảm khoảng 20 - 30%, góp phần nâng cao giá trị hạt gạo và thân thiện với môi trường.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, quá trình chuyển đổi diễn ra mạnh mẽ từ hình thức chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao. Ở lĩnh vực lâm nghiệp, tổng trữ lượng rừng quốc gia đã có xu hướng tăng trở lại, với mức tăng bình quân khoảng 2,4%/năm, tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận năm 2024 đạt 90%, tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42,03%. Trên lĩnh vực thủy sản, tốc độ tăng trưởng sản lượng giai đoạn 2021-2025 đạt 3%/năm, tổng sản lượng thủy sản cả giai đoạn đạt gần 37 triệu tấn, trung bình trên 9 triệu tấn/năm nhờ đẩy mạnh các vùng nuôi ứng dụng công nghệ cao, an toàn sinh học.

Ứng dụng công nghệ là khâu đột phá nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam thành hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh. Ảnh minh họa.

Ứng dụng công nghệ là khâu đột phá nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam thành hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh. Ảnh minh họa.

Sự trỗi dậy của kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cũng ghi nhận những kết quả nổi bật khi toàn bộ ngành dọc thay đổi nhận thức, xem chất thải và phụ phẩm là nguồn tài nguyên tái tạo. Hiện nay, cả nước phát sinh hàng năm khoảng gần 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, trong đó hơn 52% phụ phẩm trồng trọt, 90% phụ phẩm thủy sản đã được thu gom và tái sử dụng, 48,2% hộ và 96,1% trang trại xử lý chất thải chăn nuôi.

Bốn loại mô hình chủ đạo bao gồm mô hình tạo và sử dụng khí sinh học; mô hình kết hợp sản xuất như VAC, lúa - tôm, lúa - cá, vườn - rừng; mô hình tái sử dụng phụ phẩm như rơm rạ để trồng nấm, sản xuất phân hữu cơ; và mô hình tiết chế hóa học nhờ vào các giải pháp sinh học đã mang lại hiệu quả rõ rệt.

Sự tương tác, cân bằng giữa phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu là cách tiếp cận để phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, trụ cột của phát triển bền vững trong bối cảnh mới.

Các biện pháp canh tác hiện đại, cơ giới hóa đồng bộ, chuyển đổi số ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0 vào sản xuất ngày càng rộng rãi. Trong sản xuất lúa, tỷ lệ cơ giới hóa các khâu đạt trên 75%, tại các vùng chuyên canh đạt trên 95%. Các công nghệ IoT, Big Data, AI, GIS được ứng dụng phổ biến trong giám sát thời tiết, đất đai, cây trồng, vật nuôi, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và kiểm soát rủi ro.

Trong chăn nuôi, công nghệ blockchain được ứng dụng để truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dịch bệnh. Trong thủy sản, việc số hóa dữ liệu nuôi trồng, giám sát chất lượng nước giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Ở cấp độ cộng đồng, nhiều mô hình làng, xã thông minh, bước đầu hình thành nông thôn mới số, chuyển dịch mạnh mẽ từ các doanh nghiệp đầu ngành sang các hợp tác xã, tổ hợp tác và nông hộ.

Nhìn từ góc độ điều hành và quản trị, đại diện một doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn chia sẻ rằng việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, phát thải thấp và ứng dụng công nghệ số không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành tấm vé bắt buộc để nông sản Việt Nam bước vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đầu tư cho môi trường, cho các giải pháp canh tác thuận thiên chính là khoản đầu tư thông minh và mang lại lợi ích lâu dài cho cả doanh nghiệp lẫn người nông dân.

Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt từ 2,5 - 3%/năm. Để đạt được mục tiêu này, các địa phương đang tích cực hoàn thiện cơ chế chính sách, thúc đẩy tiêu dùng xanh, dán nhãn cho nông sản carbon thấp và kêu gọi các nguồn lực xã hội, hợp tác quốc tế đầu tư chuyển giao công nghệ.

Đổi mới tư duy, nhận thức có ý nghĩa quyết định, ứng dụng công nghệ là khâu đột phá nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam thành hình mẫu về phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Hana Quỳnh

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/khat-vong-thuan-thien-va-su-menh-lam-tru-do-the-ky-15159.html