Khi gỗ trở thành 'vốn xanh': Câu chuyện từ nhà rường Huế

Nhà rường Huế không chỉ lưu giữ giá trị văn hóa mà còn phản ánh cách người Việt biến tài nguyên rừng thành nguồn lực kinh tế lâu dài, hài hòa giữa khai thác và bảo tồn.

Nhà rường Huế và triết lý ‘dùng gỗ giữ rừng’

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu phát triển xanh ngày càng trở nên cấp thiết, câu chuyện sử dụng gỗ không còn đơn thuần là vấn đề vật liệu xây dựng mà đã trở thành bài toán về quản trị tài nguyên, bảo tồn văn hóa và phát triển bền vững.

Một ngôi nhà rường ở làng cổ Phước Tích (phường Phong Dinh, TP. Huế. Ảnh: dantocphattrien.vietnamnet.vn

Một ngôi nhà rường ở làng cổ Phước Tích (phường Phong Dinh, TP. Huế. Ảnh: dantocphattrien.vietnamnet.vn

Tại chương trình Forest Talk & Link số 3 với chủ đề “Gỗ trong đời sống Việt - Dùng gỗ giữ rừng”, TS. Trần Đình Hằng, Viện trưởng Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung chia sẻ, khi nói đến gỗ trong đời sống Huế không chỉ là câu chuyện của một loại vật liệu, mà còn là câu chuyện về ký ức văn hóa, tri thức bản địa và triết lý ứng xử với thiên nhiên được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Huế là vùng đất kết tinh nhiều lớp trầm tích văn hóa, từ dấu ấn Thăng Long, văn hóa bản địa phương Nam đến đỉnh cao văn hóa thời Nguyễn. Trong dòng chảy ấy, cây xanh và gỗ giữ vị trí đặc biệt trong cấu trúc không gian sống cũng như đời sống tinh thần của cư dân. Một trong những hình ảnh tiêu biểu là cây mít, loại cây gắn bó mật thiết với đời sống người Huế. Theo tập quán truyền thống, người con trai trong gia đình thường được khuyến khích trồng mít từ khi còn trẻ. Cây mít vừa cho quả, tạo cảnh quan, xác lập ranh giới khu vườn, vừa là nguồn vật liệu quý để dựng nhà rường sau hàng chục năm sinh trưởng.

Theo TS. Trần Đình Hằng, đây là cách ứng xử rất đặc biệt với thiên nhiên. Một cây mít có thể được trồng hôm nay nhưng phải mất 50 - 70 năm, thậm chí lâu hơn mới trở thành nguồn gỗ tốt để dựng nhà cho con cháu. Tư duy ấy phản ánh tầm nhìn dài hạn và ý thức tích lũy cho tương lai. Khác với cách khai thác tài nguyên ngắn hạn, người Huế coi việc trồng cây là một phần của chiến lược phát triển gia đình và cộng đồng. Gỗ được sử dụng nhưng luôn gắn với quá trình tái tạo tài nguyên. Chính từ triết lý đó, những không gian nhà vườn đặc trưng của Huế đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm.

Ở góc độ rộng hơn, TS. Trần Đình Hằng cho rằng, Việt Nam là quốc gia nằm ở giao điểm của Đông Á và Đông Nam Á, sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú. Trong lịch sử, người Việt luôn sống trong mối quan hệ mật thiết với rừng, biển và đồng bằng. Rừng không chỉ cung cấp vật liệu, tạo sinh kế mà còn góp phần định hình bản sắc văn hóa. Điều đáng chú ý là người Việt không chỉ khai thác rừng mà còn biết đưa thiên nhiên vào đời sống thường nhật. Tại Huế, điều này được thể hiện rõ nét qua mô hình nhà vườn. Người dân không xây dựng một ngôi nhà đơn thuần giữa cây xanh mà tạo dựng cả một hệ sinh thái hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên.

Theo TS. Trần Đình Hằng, người Huế xưa thường không hỏi ngôi nhà rộng bao nhiêu mét vuông mà quan tâm khu vườn rộng bao nhiêu sào, bao nhiêu mẫu. Điều đó cho thấy trong tư duy truyền thống, khu vườn mới là trung tâm của không gian sống, còn ngôi nhà chỉ là một bộ phận trong tổng thể sinh thái ấy. Từ đó hình thành triết lý “lâm viên” và “viên lâm” - đưa yếu tố rừng vào khu vườn và biến khu vườn thành một dạng rừng thu nhỏ. Nhà vườn Huế vì thế có thể được xem là mô hình “vườn rừng” độc đáo, nơi con người, cây cối và kiến trúc cùng tồn tại trong sự hài hòa.

Theo ông, thông điệp “dùng gỗ giữ rừng” không có nghĩa là ngừng sử dụng gỗ. Điều quan trọng là sử dụng gỗ một cách có trách nhiệm, có kế hoạch và gắn với phát triển rừng bền vững. Đây cũng là cách để gìn giữ những giá trị văn hóa được vun đắp qua nhiều thế hệ.

Theo các nghiên cứu lịch sử, khu vực từ Thanh Hóa đến Quảng Nam từng sở hữu nguồn tài nguyên rừng phong phú với nhiều loại gỗ quý. Người xưa hiểu rõ đặc tính của từng loài cây để lựa chọn phù hợp cho từng công trình, từ kiến trúc cung đình đến nhà ở dân gian.

TS. Trần Đình Hằng đánh giá đây là kho tàng tri thức bản địa quý giá, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cha ông. Nguồn tài nguyên rừng dồi dào cùng hệ sinh thái đa dạng gồm rừng, sông, đầm phá và biển đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng của Huế. Trong điều kiện tự nhiên nhiều thách thức, người Huế đã hình thành hệ giá trị được khái quát bằng bốn chữ: “sẻn, sang, hòa, hóa”. Đó là sự tiết kiệm, biết tích lũy cho tương lai; khả năng nâng những điều bình dị thành giá trị tinh tế; sống hài hòa với thiên nhiên và cộng đồng; đồng thời luôn sáng tạo, thích ứng trước hoàn cảnh.

Những giá trị ấy được thể hiện rõ trong kiến trúc nhà rường. Nhiều ngôi nhà không được xây dựng trong vài năm mà là kết quả tích lũy qua nhiều thế hệ. Có gia đình dành hàng chục năm chuẩn bị vật liệu, dựng khung và hoàn thiện công trình. Mỗi ngôi nhà vì thế không chỉ là nơi ở mà còn là kết tinh của lao động, trách nhiệm và tầm nhìn hướng tới tương lai.

Bảo tồn nhà rường và cơ hội cho ngành gỗ hợp pháp

Theo TS. Trần Đình Hằng, giá trị của nhà rường Huế không chỉ nằm ở vật liệu gỗ mà còn ở kỹ thuật chế tác và hệ tri thức nghề mộc được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Điểm đặc sắc nhất của nhà rường là hệ thống kết cấu mộng gỗ. Các cấu kiện được liên kết bằng nhiều dạng mộng khác nhau như mộng vuông, mộng tròn, mộng âm - dương và nhiều biến thể kỹ thuật phức tạp khác. Nhờ đó, toàn bộ công trình có thể tạo thành hệ khung chịu lực vững chắc mà không phụ thuộc nhiều vào các vật liệu liên kết hiện đại.

TS. Trần Đình Hằng, Viện trưởng Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung. Ảnh: N.H

TS. Trần Đình Hằng, Viện trưởng Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung. Ảnh: N.H

Chỉ riêng kỹ thuật làm mộng trong nhà rường Huế cũng đã là một kho tàng tri thức dân gian vô giá, phản ánh trình độ nghề mộc rất cao của người Việt. Tuy nhiên, công tác bảo tồn nhà rường hiện đang đối mặt với nhiều thách thức. Phần lớn nhà rường cổ thuộc sở hữu của các dòng họ lâu đời. Theo thời gian, điều kiện kinh tế của nhiều gia đình thay đổi trong khi chi phí bảo dưỡng, trùng tu nhà gỗ ngày càng cao. Bên cạnh đó, tâm lý chuộng gỗ tự nhiên quý hiếm vẫn còn phổ biến. Nhiều chủ sở hữu chưa sẵn sàng sử dụng gỗ rừng trồng hoặc vật liệu thay thế trong quá trình phục dựng. Điều này khiến áp lực lên nguồn tài nguyên rừng tự nhiên tiếp tục gia tăng.

Để bảo tồn nhà rường trong bối cảnh hiện nay, theo TS. Trần Đình Hằng, cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn. Bên cạnh việc bảo tồn tối đa các công trình nguyên gốc, cần nghiên cứu sử dụng nguồn gỗ hợp pháp từ rừng trồng hoặc nhập khẩu trong các hoạt động tu bổ và xây dựng mới. Đây không chỉ là giải pháp cho công tác bảo tồn di sản mà còn mở ra cơ hội cho ngành lâm nghiệp phát triển theo hướng bền vững.

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hiện các cam kết giảm phát thải, phát triển thị trường gỗ hợp pháp, gỗ có chứng chỉ bền vững là xu hướng tất yếu. Khuyến khích sử dụng gỗ rừng trồng chất lượng cao không chỉ giảm áp lực lên rừng tự nhiên mà còn tạo đầu ra ổn định cho ngành trồng rừng, chế biến gỗ và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị lâm nghiệp. Theo các chuyên gia, điều quan trọng là từng bước hình thành tư duy “dùng gỗ nhưng không phá rừng”. Khi nguồn nguyên liệu bền vững được bảo đảm, các công trình kiến trúc gỗ truyền thống vẫn có thể tiếp tục hiện diện trong đời sống hiện đại, đồng thời tạo động lực cho phát triển kinh tế xanh.

Từ triết lý “trồng cây để dựng nhà cho con cháu”, người Huế đã hình thành một mô hình ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Câu chuyện nhà rường Huế hôm nay không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn gợi mở hướng đi cho phát triển lâm nghiệp và kinh tế xanh bền vững.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/khi-go-tro-thanh-von-xanh-cau-chuyen-tu-nha-ruong-hue-461447.html