Khi nào công an được khám xét nhà dân?

Việc khám xét chỗ ở của công dân được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Mới đây, Công an TP.HCM đã triệt phá đường dây ma túy quy mô lớn, khởi tố 71 bị can, trong đó có ca sĩ Long Nhật.

Làm việc với cơ quan điều tra, ca sĩ Long Nhật thừa nhận có sử dụng ma túy đá cùng người giúp việc kiêm quản lý tại nhà riêng.

Nhiều bạn đọc thắc mắc, khi nào công an được quyền vào nhà dân để khám xét?

Luật sư Trần Hoàng Hải Phong, Đoàn Luật sư TP.HCM, cho biết: Điều 22 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Điều 12 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS) cũng quy định: Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

Như vậy, mọi công dân có quyền có nơi ở hợp pháp và không ai được phép xâm phạm khi chưa được người đó cho phép.

Ngoài ra, việc khám xét chỗ ở được thực hiện theo quy định của BLTTHS.

Cụ thể, Điều 192 BLTTHS quy định việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.

 Công an TP.HCM khám xét căn hộ của "Ngân 98". Ảnh: CA

Công an TP.HCM khám xét căn hộ của "Ngân 98". Ảnh: CA

Điều 193 BLTTHS quy định những người có thẩm quyền như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên... có quyền ra lệnh khám xét.

Trong một số trường hợp nhất định, lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

Trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền theo quy định có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Những người có quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp khẩn cấp là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên... theo quy định.

Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.

Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định và đưa vào hồ sơ vụ án.

NGUYỄN CHÍNH

Nguồn PLO: https://plo.vn/khi-nao-cong-an-duoc-kham-xet-nha-dan-post909479.html