Khi Nhà nước mở đường và đồng hành
HNN.VN - Lễ công bố Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam và danh mục 17 bài toán trọng tâm năm 2026 diễn ra đúng dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10). Thời điểm ấy làm rõ thông điệp: doanh nghiệp, doanh nhân phải trở thành chủ thể chuyển hóa bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam thành sản phẩm, việc làm và động lực tăng trưởng. Trong phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh vai trò chủ động của cơ quan quản lý trong nêu bài toán, kết nối đối tác và thúc đẩy thực hiện.
Ý nghĩa của thông điệp nằm ở phương thức tổ chức phát triển. Nhà nước mở đường bằng thể chế, dẫn dắt bằng nguồn lực và đồng hành để doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Nhưng cơ hội chỉ thành kết quả khi hợp tác minh bạch, sáng tạo được tôn trọng và mỗi chủ thể chịu trách nhiệm đến cùng với sản phẩm.

Nền tảng công nghiệp văn hóa dần hình thành ở nhiều địa phương.
Từ định hướng phát triển đến tổ chức thực hiện
Công nghiệp văn hóa tạo ra sản phẩm, dịch vụ dựa trên văn hóa, sáng tạo và tài sản trí tuệ. Di sản quý, nghề truyền thống hay ý tưởng nghệ thuật đều có thể mở ra cơ hội kinh tế. Tuy nhiên, sở hữu tài nguyên chưa đồng nghĩa với có năng lực phát triển; khoảng cách ấy phải được lấp đầy bằng nghiên cứu, thiết kế, đầu tư và phân phối.
Chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa đã hình thành qua nhiều giai đoạn. Yêu cầu hôm nay là chuyển định hướng thành năng lực thực thi, thông qua mục tiêu kinh tế, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế. Mạng lưới vì thế phải giúp những nguồn lực phân tán tìm được đối tác và phương thức hợp tác, thay vì chỉ bổ sung một đầu mối tổ chức.
Theo Báo Điện tử Chính phủ, công nghiệp văn hóa đóng góp 3,92% GDP năm 2021 và 4,04% năm 2022. Giai đoạn 2018–2022, số cơ sở kinh tế tăng bình quân 7,2% mỗi năm; lĩnh vực này có trên 70.000 cơ sở kinh tế, thu hút khoảng 2,3 triệu lao động, chiếm 4,42% tổng lực lượng lao động của nền kinh tế.
Quy mô ấy khẳng định khả năng tạo sinh kế và đóng góp tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra đòi hỏi nâng chất lượng phát triển. Tăng số cơ sở phải đi cùng tăng năng suất sáng tạo, thu nhập người lao động và sức cạnh tranh thương hiệu; nếu không, quy mô lớn vẫn có thể che khuất giá trị gia tăng thấp.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg, xác định 10 ngành chủ chốt ưu tiên phát triển. Mục tiêu đến năm 2030 là tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm, đóng góp 7% GDP; lao động chiếm 6% tổng lực lượng lao động của nền kinh tế; giá trị xuất khẩu tăng bình quân 7% mỗi năm. Các chỉ tiêu đòi hỏi phát triển đồng thời về quy mô kinh tế, nhân lực và năng lực tiếp cận thị trường quốc tế.
Công bố 17 bài toán là bước tìm đường đi cụ thể cho những mục tiêu ấy. Trải nghiệm di sản số, biểu diễn gắn với du lịch, thương hiệu ẩm thực hay công nghệ xuất bản đều dựa vào nguồn lực sẵn có, nhưng thành công phụ thuộc phương thức tổ chức mới.
Danh mục bài toán không thể trở thành danh mục phong trào. Mỗi nhiệm vụ phải có công chúng, đối tác, điều kiện triển khai và khả năng duy trì sau hỗ trợ. Sản phẩm gây chú ý tại lễ ra mắt chưa chứng minh được hiệu quả; khả năng được sử dụng, tạo doanh thu và tiếp tục cải tiến mới xác nhận sức sống.

Sản phẩm hoa giấy Maypaperflower được doanh nghiệp xúc tiến, xuất khẩu đến 10 quốc gia.
Doanh nghiệp phải trở thành chủ thể đầu tư và sáng tạo
Bộ trưởng đề cao doanh nghiệp, doanh nhân cũng là đặt lại cách huy động nguồn lực xã hội. Doanh nghiệp không thể chỉ được tìm đến để tài trợ sự kiện. Với công nghiệp văn hóa, họ cần tham gia từ nhận diện cơ hội, phát triển ý tưởng đến huy động vốn, sản xuất, phân phối và tái đầu tư. Quan hệ hợp tác phải được xây dựng.
Doanh nhân đưa sáng tạo vào mô hình kinh doanh có thể vận hành. Công chúng nào sử dụng sản phẩm, vì sao trả tiền, cách thu hồi chi phí và lợi thế cạnh tranh là những câu hỏi phải trả lời. Thử thách bằng thực tế thị trường giúp ý tưởng trưởng thành, tạo nguồn lực cho người sáng tạo tiếp tục làm nghề.
Năng lực kinh doanh phải kết hợp với hiểu biết văn hóa. Khai thác di sản thiếu nghiên cứu có thể gây sai lệch giá trị; biểu diễn đầu tư lớn về kỹ thuật vẫn thiếu sức thuyết phục nếu nội dung sơ sài; thương hiệu ẩm thực khó bền vững khi quảng bá vượt quá chất lượng. Thị trường cần sự khác biệt có căn cứ.
Doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu, nhân lực và chất lượng sáng tạo. Thù lao nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, người biên soạn tư liệu là chi phí tạo giá trị, không phải phần có thể tùy tiện cắt giảm. Tri thức và tài năng được trả công xứng đáng mới nuôi dưỡng chiều sâu sản phẩm.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với người sáng tạo cũng phải dựa trên hợp đồng rõ ràng. Quyền tác giả, quyền khai thác, thời hạn sử dụng, phạm vi chuyển giao và nguyên tắc phân chia doanh thu cần được xác định trước khi sản phẩm ra thị trường. Một môi trường mà sáng tạo thường xuyên bị sao chép, còn người tạo ra giá trị khó bảo vệ quyền lợi sẽ làm suy giảm động lực đầu tư của cả nghệ sĩ lẫn doanh nghiệp.
Tư liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về các sáng kiến công bố ngày 12/10/2026 cho thấy hướng phát triển đa dạng, từ kho dữ liệu văn hóa số, bản sao số di sản, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa đến phim trường số, gợi mở khả năng phát triển sản phẩm từ chất liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Huế Wonderverse Fest ra đời có sự điều phối của Nhà nước, nhà sản xuất tạo sản phẩm, còn nhà tài trợ tạo nguồn lực.
Đồng hành bằng thể chế, hạ tầng và nguồn lực minh bạch
Cam kết đồng hành đặc biệt cần thiết với lĩnh vực đầu tư nhiều vào tài sản vô hình, thời gian phát triển dài và khả năng thu hồi vốn khó dự báo. Phim, biểu diễn, nội dung số đều chịu thử thách về sáng tạo, phân phối và phản ứng công chúng. Chính sách phải giúp giảm rủi ro có thể kiểm soát.
Mở đường trước hết là giảm bất định về chính sách. Doanh nghiệp cần biết điều kiện tiếp cận dữ liệu, không gian, thiết chế văn hóa; thẩm quyền quyết định, thời hạn thủ tục và nghĩa vụ hợp tác. Quy định rõ giúp tính toán đầu tư và bảo vệ cơ quan công lập khi thực hiện đúng trách nhiệm. Đồng hành phải thể hiện trong từng quyết định cụ thể.
Theo Báo Điện tử Chính phủ ngày 10/8/2026, dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa được lấy ý kiến theo cách tiếp cận chuỗi giá trị, hướng tới khắc phục khoảng trống thực thi và không phát sinh thủ tục hành chính. Những đề xuất ấy cần được phân biệt với quy định đã có hiệu lực.
Từ góc độ thực tiễn, một yêu cầu quan trọng là cơ chế hợp tác với thiết chế công lập. Bảo tàng, thư viện, nhà hát và đơn vị quản lý di sản nắm giữ nhiều tư liệu, không gian và năng lực chuyên môn. Doanh nghiệp có thể bổ sung công nghệ, vốn và khả năng phát triển thị trường. Sự kết hợp ấy cần quy định cụ thể về lựa chọn đối tác, định giá, trách nhiệm bảo tồn và chia sẻ lợi ích.
Bộ trưởng nhấn mạnh chủ trương bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa từ năm 2026. Đây là nguồn lực cho toàn lĩnh vực, không phải vốn dành riêng cho doanh nghiệp công nghiệp văn hóa. Vấn đề quyết định là cơ cấu sử dụng, hiệu quả đầu tư và khả năng huy động nguồn lực xã hội.
Ngân sách có thể phát huy vai trò dẫn dắt khi đầu tư cho dữ liệu dùng chung, đào tạo nhân lực, bảo tồn tài nguyên văn hóa, nghiên cứu thị trường và những điều kiện mà từng doanh nghiệp khó tự tạo lập. Khi nền tảng được cải thiện, nhiều chủ thể có thể cùng phát triển sản phẩm, giảm chi phí đầu vào và mở rộng cơ hội cạnh tranh.
Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đặt mục tiêu đến năm 2030: 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số. Mục tiêu tạo cơ sở cho việc tổ chức tài nguyên số và kiểm soát khai thác.
Dữ liệu chỉ thành nguồn lực khi đủ chất lượng và sử dụng được. Kho tư liệu thiếu nguồn gốc, quyền khai thác hoặc chuẩn kỹ thuật khó phục vụ sản xuất. Số hóa phải đi cùng chuẩn hóa, xác định quyền, cấp phép và cập nhật; nếu thiếu những điều kiện ấy, đầu tư công nghệ có thể chỉ tạo thêm kho lưu trữ.
Đồng hành đòi hỏi phối hợp giữa văn hóa, tài chính, khoa học và công nghệ, giáo dục, chính quyền địa phương. Vướng mắc về vốn, tài sản công, nhân lực vượt quá khả năng riêng ngành văn hóa. Cam kết trung ương phải thành trách nhiệm xử lý tại nơi triển khai dự án.

Mặc áo dài - trải nghiệm làng nghề thủ công được nhiều du khách lựa chọn khi đến Huế.
Đo hiệu quả bằng sản phẩm và lợi ích được chia sẻ
Điểm đáng chú ý trong phát biểu của Bộ trưởng là yêu cầu có sản phẩm ra thị trường, doanh thu cho doanh nghiệp, thu nhập cho người sáng tạo và thêm cơ hội thụ hưởng cho người dân. Đây là những thước đo gắn kết hiệu quả kinh tế với mục tiêu văn hóa, giúp việc tổ chức thực hiện có trọng tâm hơn.
Mỗi nhóm hợp tác cần mục tiêu theo các giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện, thương mại hóa. Đánh giá phải dựa vào chất lượng, mức độ sử dụng, doanh thu, tái đầu tư và thu nhập người tham gia. Đông khán giả nhưng không duy trì được hoạt động phải xem lại mô hình; có doanh thu nhưng gây tổn hại di sản phải điều chỉnh.
Áp lực kết quả sớm phải cân đối với đặc điểm sáng tạo. Dự án có chiều sâu cần thời gian nghiên cứu, thử nghiệm. Hỗ trợ nên chấp nhận rủi ro thương mại trong giới hạn minh bạch, có đánh giá chuyên môn và giải trình. Chỉ ưu tiên sản phẩm dễ thu hồi vốn sẽ thu hẹp cơ hội phát triển giá trị mới.
Lợi ích của cộng đồng cần được đặt ngay trong thiết kế dự án. Nhiều chất liệu văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, gắn với công sức của nghệ nhân, làng nghề và cư dân địa phương. Khi giá trị ấy trở thành nguồn thu, những người gìn giữ cần được tham gia, được ghi nhận và được hưởng lợi bằng việc làm, thu nhập hoặc nguồn lực phục vụ bảo tồn.
Với các đô thị di sản như Huế, hướng tiếp cận này có ý nghĩa thiết thực. Di sản, áo dài, ẩm thực, nghề thủ công và nghệ thuật biểu diễn có thể kết nối thành những sản phẩm phục vụ nhiều nhóm công chúng. Tuy nhiên, mỗi dự án cần được phát triển trên cơ sở nghiên cứu và nhu cầu thực tế. Trải nghiệm di sản số phải có nội dung đáng tin cậy; biểu diễn cần lịch hoạt động ổn định; sản phẩm thủ công cần thiết kế, tiêu chuẩn chất lượng và kênh phân phối.
Báo chí cần giới thiệu sản phẩm, giải thích giá trị văn hóa, phản ánh nhu cầu công chúng và phát hiện bất cập chính sách. Truyền thông có chiều sâu giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín bằng chất lượng, nâng khả năng lựa chọn của người tiêu dùng. Sự đồng hành ấy cũng bao gồm phản biện khi sản phẩm làm sai lệch di sản.
Khi Nhà nước đã mở đường và trở thành người đồng hành, doanh nghiệp phải đáp lại bằng đầu tư, hợp tác và trách nhiệm với giá trị khai thác. Cơ quan quản lý phải bảo đảm minh bạch, tháo gỡ vướng mắc và theo dõi kết quả. Người sáng tạo, thiết chế và cộng đồng phải có vị trí bình đẳng. Chính quan hệ ấy quyết định các kết nối hôm nay có trở thành sản phẩm bền vững, sinh kế lâu dài và sức mạnh văn hóa đất nước.
Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/khi-nha-nuoc-mo-duong-va-dong-hanh-170736.html
