Khi thời gian không thể xóa nhòa nỗi đau da camBài 1: Màu xanh tái sinh nhưng vết thương chưa lành
65 năm là quãng thời gian đủ để những cánh rừng bị tàn phá bởi bom đạn tái sinh màu xanh, nhiều 'điểm nóng' dioxin dần được làm sạch và một thế hệ sinh ra sau chiến tranh đã bước vào tuổi trưởng thành. Thế nhưng, với hàng triệu nạn nhân chất độc da cam, thời gian chưa bao giờ là phương thuốc xóa nhòa hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học tàn khốc nhất lịch sử nhân loại.

Máy bay UC-123 rải chất độc da cam tại Việt Nam.
Một thập kỷ gieo rắc "cầu vồng chết chóc"
Ngày 10/8 là Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, cũng là ngày đánh dấu mốc khi quân đội Mỹ lần đầu rải chất độc hóa học xuống chiến trường năm 1961. Sự kiện này mở ra cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất lịch sử hiện đại, để lại hậu quả thảm khốc và lâu dài cho môi trường cũng như nhiều thế hệ người Việt.
Ngày 10/8/1961, trên bầu trời phía Bắc tỉnh Kon Tum, những chiếc máy bay quân sự Mỹ bắt đầu trút xuống rừng núi một thứ hóa chất mà khi ấy chưa ai có thể hình dung sẽ để lại tai họa dai dẳng suốt nhiều thế hệ. Chỉ hơn ba tháng sau, ngày 30/11/1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy chính thức phê chuẩn kế hoạch sử dụng hóa chất trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Đầu năm 1962, Chiến dịch Ranch Hand mở màn. Từ đó, những chuyến bay mang theo các thùng hóa chất nối nhau phủ xuống rừng núi, đồng ruộng và làng mạc, mở đầu một thập kỷ chiến tranh hóa học chưa từng có trong lịch sử loài người.
Trong suốt một thập kỷ (1961-1971), quân đội Mỹ đã thực hiện khoảng 19.905 phi vụ, trút xuống miền Nam Việt Nam gần 80 triệu lít chất độc hóa học. Trong dung tích khổng lồ ấy, chất da cam chiếm tới 61%. Điều tàn khốc nằm ở chỗ, ẩn trong hàng triệu lít chất diệt cỏ dạng lỏng đó là khoảng 366 kg dioxin tinh khiết, một tạp chất có độc tính sinh học cao nhất do con người tạo ra.
Dù 366 kg không phải là khối lượng lớn nếu đặt cạnh hàng chục triệu lít chất độc hóa học đã được phun rải, nhưng với khả năng tàn phá tế bào chỉ ở liều lượng một vài phần tỷ gram, 366 kg dioxin ấy đã trở thành "liều thuốc độc kéo dài", phát tán ra môi trường và tác động trực tiếp đến hơn 3,06 triệu ha đất đai cùng gần 26.000 thôn, bản.
Đáng chú ý, khoảng 86% diện tích bị phun rải từ hai lần trở lên, thậm chí 11% diện tích phải hứng chịu hơn 10 lần dội độc. Kết quả là gần một phần tư diện tích miền Nam Việt Nam đã bị cuốn vào một cuộc chiến tranh hóa học có quy mô tàn phá và mức độ hủy diệt đặc biệt nghiêm trọng trong lịch sử nhân loại.
Chất độc da cam chỉ là một trong nhiều loại hóa chất được quân đội Mỹ sử dụng. Cùng với nó còn có chất trắng, chất xanh, chất tím, chất hồng và chất xanh lá cây, được gọi chung bằng một cái tên tưởng như vô hại “cầu vồng hóa chất”. Mục tiêu ban đầu là phá hủy thảm thực vật, triệt hạ nơi che giấu và nguồn lương thực của lực lượng cách mạng, song hậu quả đã vượt xa mọi tính toán quân sự.
Chất độc không dừng lại trên mặt đất mà đi vào nguồn nước, chuỗi thức ăn và cơ thể con người, để rồi nhiều năm sau chiến tranh vẫn tiếp tục hiện diện trong những căn bệnh, dị tật và mất mát truyền từ đời này sang đời khác.
Trong bức tranh thảm họa ấy, thung lũng A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là vùng A Sho thuộc xã Đông Sơn, là một trong những “vết sẹo” nhức buốt nhất. Trong chiến tranh, sân bay dã chiến A Sho được quân đội Mỹ sử dụng như một căn cứ hậu cần, nơi tập kết hóa chất, nạp chất diệt cỏ lên máy bay, súc rửa phương tiện và xử lý các vỏ thùng sau mỗi đợt phun rải. Hóa chất theo nước mưa thấm xuống đất, len vào khe suối và tích tụ trong môi trường sống.
Chiến tranh đã lùi xa, cây rừng A Lưới đã xanh trở lại, nhưng màu xanh ấy chưa thể che khuất những hậu quả còn nằm lại. Toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có gần 16.000 người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, riêng huyện A Lưới khoảng 5.000 người.
Phía sau những con số là những mái nhà có người đau yếu triền miên, những thai kỳ không trọn vẹn, những đứa trẻ sinh ra với cơ thể không lành lặn. “Cầu vồng hóa chất” đã tan khỏi bầu trời từ hơn nửa thế kỷ trước, nhưng bóng tối mà nó để lại vẫn chưa thôi ám ảnh những phận người.

Những khu rừng dọc đường Trường Sơn bị chất độc hóa học của Mỹ làm trơ trụi.
Cuộc chiến với nỗi đau thể xác, tinh thần chưa bao giờ dứt
Cây rừng có thể trồng lại, những vùng đất ô nhiễm có thể từng bước được xử lý bằng khoa học và công nghệ, nhưng với sức khỏe con người, sự phục hồi không đơn giản như vậy. Chất độc đã thấm sâu vào cơ thể của những người trực tiếp phơi nhiễm, di truyền qua dòng máu của nhiều thế hệ, gieo rắc nỗi đau kéo dài trong hàng triệu mái nhà. Chính vì thế, thảm họa da cam không còn chỉ được đo bằng diện tích rừng bị tàn phá hay số lít hóa chất đã phun rải, mà bằng bi kịch của những số phận đang từng ngày chống chọi với di chứng chiến tranh.
Theo Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam từng bị phơi nhiễm, ước tính có tới 3 triệu người Việt Nam bị ảnh hưởng về sức khỏe do phơi nhiễm chất độc hóa học/dioxin, trong đó, ít nhất có 150.000 trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh và ít nhất 1 triệu người đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ chất độc da cam.
Khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) thực hiện tại 206 gia đình thuộc 16 tỉnh, thành phố giai đoạn 2000-2005 ghi nhận hàng loạt trường hợp tai biến thai sản, dị tật bẩm sinh cùng những tổn thương tâm lý sâu sắc. Những số liệu ấy cho thấy một thực tế xót xa, hậu quả chiến tranh hóa học không chỉ hiện hữu trên bệnh án hay tỷ lệ thương tật, mà còn là áp lực tinh thần và kinh tế âm thầm đè nặng lên từng gia đình qua năm tháng.
65 năm trôi qua, thời gian đủ trọn cho một đời người từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi tóc bạc, da mồi, nhưng với thảm họa da cam, thời gian chưa thể trở thành phương thuốc chữa lành tất cả.
Ở nhiều làng quê Việt Nam hôm nay, nhiều gia đình vẫn nghẹn ngào trước cảnh những người cha, người mẹ tóc đã bạc trắng như cước, mỗi ngày vẫn kiên nhẫn chăm sóc, bón từng thìa cơm cho đứa con dị tật đã ở tuổi trung niên. Có những người trẻ sinh ra trong hòa bình, chưa từng một lần nghe tiếng bom rơi hay thấy bom đạn, nhưng trên cơ thể và trong cuộc đời họ vẫn mang những dấu vết khắc nghiệt mà chiến tranh để lại.
Chiến tranh đã lùi xa vào lịch sử, nhưng cuộc chiến vượt lên số phận và hành trình xoa dịu nỗi đau da cam vẫn tiếp diễn mỗi ngày. Đó là hành trình của nghị lực, trách nhiệm và lòng nhân ái, để những phận đời mang di chứng không bị bỏ lại phía sau.
“
Tôi đã đi và gặp, gặp nhiều quá, đau nhiều quá, đến mức có lúc tự hỏi liệu mình có trở nên chai sạn trước những nỗi đau của nạn nhân chất độc dioxin - da cam? 65 năm sau ngày quân đội Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, tôi lần giở những trang ghi chép cũ, tìm lại những gương mặt và những mái nhà từng ám ảnh mình. Trong một nỗi đau cùng nguồn gốc, có những nỗi đau không thể nào quên. Bởi chiến tranh đã lùi xa, nhưng vết thương da cam vẫn chưa khép lại.











