Khi vải thiều có 'hộ chiếu số'

Thời gian qua, việc người dân ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong sản xuất nông nghiệp đang tạo bước đột phá về truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin sản phẩm. Không chỉ giúp nâng cao niềm tin của người tiêu dùng, công nghệ này còn mở ra cơ hội để nông sản Bắc Ninh đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế, từng bước nâng cao giá trị và sức cạnh tranh.

Vườn vải đầu tiên ứng dụng công nghệ mới

Trước thực tế những thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hoa Kỳ ngày càng siết chặt các quy định về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, minh bạch chuỗi cung ứng, chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành Nông nghiệp.

Nếu trước đây, truy xuất nguồn gốc chủ yếu dựa vào ghi chép trên sổ sách, giấy chứng nhận hoặc tem nhãn truyền thống thì nay việc số hóa toàn bộ quá trình sản xuất đang mở ra hướng đi mới cho nông sản Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng.

 Anh Đỗ Văn Tuân (bên phải) hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ Blockchain trong sản xuất vải thiều hữu cơ.

Anh Đỗ Văn Tuân (bên phải) hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ Blockchain trong sản xuất vải thiều hữu cơ.

Ông Vũ Văn Mến, thôn Bằng Công, xã Kiên Lao là hộ nông dân đầu tiên trên địa bàn tỉnh ứng dụng công nghệ Blockchain vào chuỗi sản xuất vải thiều hữu cơ. Trong khu vườn rộng 1,5 ha, mọi công đoạn chăm sóc cây trồng đều được ông cập nhật trên môi trường số thay cho phương thức ghi chép thủ công trước đây.

Chỉ với một thao tác quét mã QR bằng điện thoại thông minh, người tiêu dùng có thể truy cập đầy đủ thông tin về sản phẩm như: Địa điểm sản xuất, mã số vùng trồng, nhật ký chi tiết quy trình canh tác, thời gian cắt tỉa, bón phân, tên loại thuốc bảo vệ thực vật... Những dữ liệu này được lưu trữ và xác thực bằng công nghệ Blockchain, bảo đảm tính minh bạch, không thể chỉnh sửa sau khi cập nhật.

“Gia đình tôi hiện có hơn 1,5 ha vải thiều hữu cơ, sản lượng ước đạt 3 tấn quả. Năm nay tôi ứng dụng công nghệ mới nên mỗi sản phẩm đều có mã định danh riêng, mang theo đầy đủ dữ liệu về quá trình sản xuất. Toàn bộ sản phẩm đã được các doanh nghiệp xuất khẩu và một số siêu thị đăng ký thu mua", ông Mến chia sẻ.

Không còn những cuốn sổ ghi chép dày cộp, toàn bộ quy trình sản xuất vải của hộ ông Mến được Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia (trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) cấp mã GTIN 8938561601003 theo hệ thống GS1 đang được sử dụng tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là điều kiện quan trọng để sản phẩm tham gia vào hệ thống bán lẻ quốc tế với giá bán cao hơn 20% so với các hộ lân cận.

Theo các chuyên gia, điểm khác biệt lớn nhất giữa Blockchain và hình thức truy xuất nguồn gốc thông thường nằm ở tính xác thực của dữ liệu. Nếu mã QR truyền thống chỉ là công cụ hiển thị thông tin do người sản xuất cung cấp thì ứng dụng mới cho phép lưu trữ dữ liệu trên hệ thống phân tán, có xác thực điện tử, đặc biệt là không thể chỉnh sửa hoặc xóa bỏ sau khi cập nhật.

Điều này giúp nâng cao độ tin cậy, hạn chế tình trạng làm giả thông tin hoặc đánh tráo sản phẩm. Từ mô hình tiên phong của ông Vũ Văn Mến, đến nay công nghệ Blockchain đã được mở rộng tới một số hộ sản xuất vải thiều hữu cơ tại xã Tân Sơn và nhiều cơ sở sản xuất, chế biến nông sản sạch trên địa bàn tỉnh.

Nâng tầm giá trị nông sản

Không chỉ được ứng dụng trong sản xuất cây ăn quả, Blockchain được ứng dụng tại các cơ sở chế biến thực phẩm. Tại Công ty cổ phần Son Chicken, phường Việt Yên, việc truy xuất nguồn gốc trong chuỗi giết mổ, chế biến gia cầm đang được triển khai theo hướng số hóa toàn diện. Doanh nghiệp hiện vận hành cơ sở giết mổ, chế biến trên diện tích khoảng 500 m² với gần 35 lao động thường xuyên, công suất khoảng 3.000 con gia cầm/ngày, tương đương từ 7 đến 10 tấn sản phẩm/ngày.

Thông qua nền tảng Blockchain, toàn bộ thông tin từ khâu chăn nuôi, chăm sóc, giết mổ, chế biến, đóng gói đến vận chuyển được lưu trữ trên hệ thống dữ liệu số. Mỗi lô sản phẩm đều được gắn mã QR tích hợp chuẩn GS1 Digital Link. Nhờ vậy, người tiêu dùng, nhà phân phối hoặc đối tác nhập khẩu chỉ cần sử dụng điện thoại để theo dõi toàn bộ hành trình sản phẩm theo thời gian thực.

Blockchain không đơn thuần là công cụ truy xuất nguồn gốc mà đang trở thành “tấm hộ chiếu số” giúp nông sản Bắc Ninh khẳng định chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng cánh cửa xuất khẩu tới những thị trường có giá trị cao trên thế giới. Xa hơn, đây còn là bước chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập bền vững cho người dân.

Người trực tiếp triển khai giải pháp này là anh Đỗ Văn Tuân, chuyên viên Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: "Áp dụng công nghệ Blockchain sẽ đạt được hai mục tiêu lớn, một là chuẩn hóa quy trình để tăng hiệu quả canh tác; hai là giúp nông sản có giá trị cao hơn, chất lượng ổn định hơn khi xuất khẩu. Đó chính là cách sử dụng công nghệ để nâng tầm giá trị cho nông sản".

Theo đồng chí Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, hiện nay, các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ. Việc ứng dụng Blockchain đáp ứng quy chuẩn quốc tế không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát chất lượng mà còn tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng và đối tác thương mại. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các chuỗi sản xuất minh bạch, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Bắc Ninh.

Thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục cử cán bộ xuống cơ sở trực tiếp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới. Cùng đó, mỗi người dân, doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn đặt ra đối với hàng hóa nông sản của các quốc gia nhập khẩu, từng bước mở rộng mặt hàng đủ điều kiện tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bài, ảnh: Thái Vân

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/khi-vai-thieu-co-ho-chieu-so--postid447603.bbg