Khoa học công nghệ tạo động lực phát triển nông nghiệp Gia Lai
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang chuyển mạnh sang hướng bền vững và thích ứng với yêu cầu thị trường, việc ứng dụng khoa học công nghệ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao giá trị, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Hà - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ về những giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong thời gian đến.

Ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai đang cho thấy những tín hiệu tích cực. Ảnh: Quang Tấn
* Xin ông cho biết, việc áp dụng KHCN đã mang lại hiệu quả như thế nào đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong thời gian qua?
- Trong thời gian qua, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất và tăng cường chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu đã tạo bước chuyển mạnh mẽ cho ngành Nông nghiệp Gia Lai.
Theo số liệu báo cáo, đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 361 mã số vùng trồng với tổng diện tích 11.474,51 ha, trong đó có 306 mã số vùng trồng xuất khẩu trên diện tích 10.960,92 ha. Đây là nền tảng quan trọng để kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường trong và ngoài nước.

Ông Nguyễn Hữu Hà - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ.
Cùng với việc xây dựng các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, Gia Lai đã phát triển 53 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu với tổng công suất từ 2.670-2.885 tấn quả tươi/ngày. Hệ thống cơ sở đóng gói hiện đại góp phần nâng cao chất lượng bảo quản, sơ chế và chế biến nông sản, gia tăng giá trị sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.
Đặc biệt, việc hình thành 226 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm trên diện tích hơn 253.103 ha, với sự tham gia của 101 hợp tác xã, 72 tổ hợp tác, 47 nông hội và 77 doanh nghiệp đã tạo nên hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp khép kín từ khâu trồng trọt, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ.
Các chuỗi liên kết không chỉ giúp nông dân tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn thúc đẩy chế biến sâu, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước nâng tầm thương hiệu và giá trị nông sản Gia Lai trên thị trường quốc tế.

Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi và xử lý chất thải đã góp phần bảo vệ môi trường. Ảnh: Quang Tấn
* Việc áp việc ứng dụng KHCN vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản của tỉnh đang phải đối mặt với những rào cản nào, thưa ông?
- Những năm gần đây, việc ứng dụng KHCN vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. KHCN không những góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí đầu vào, hình thành các sản phẩm nông nghiệp an toàn mà còn từng bước chuyển từ tiêu thụ nguyên liệu thô sang chế biến sâu làm tăng giá trị, xây dựng thương hiệu cho nông sản.

Người dân ở xã Ia Phí ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất dưa lưới theo tiêu chuẩn VietGAP. Ảnh: Hồng Thương
Nhiều mô hình cho hiệu quả rõ nét như trồng chuối nuôi cấy mô, thâm canh dừa đạt tiêu chuẩn VietGAP hay trồng đậu (lạc) áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm. Thông qua các mô hình này, nhận thức của người dân và doanh nghiệp về vai trò của KHCN đã được nâng lên rõ rệt, từng bước hình thành tư duy sản xuất hiện đại.
Đồng thời, tỉnh đã triển khai nhiều nhiệm vụ KHCN gắn trực tiếp với chế biến nông sản địa phương và phát triển sản phẩm sau chế biến. Hoạt động ứng dụng KHCN trong tiêu thụ sản phẩm cũng được thúc đẩy thông qua xây dựng nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, mã QR và phát triển tài sản trí tuệ cho sản phẩm nông nghiệp địa phương.
Đặc biệt, sau khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai hiện có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sản xuất theo chuỗi. Nếu khu vực Tây Nguyên có lợi thế về vùng nguyên liệu lớn thì khu vực duyên hải lại có lợi thế về logistics, công nghiệp chế biến và kết nối thị trường.
Tuy nhiên, việc ứng dụng KHCN vẫn chưa đồng đều giữa các vùng, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quy mô ứng dụng còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi và sự tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế.
Cùng với đó, năng lực chế biến sâu hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vùng nguyên liệu; phần lớn nông sản vẫn tiêu thụ dưới dạng thô hoặc sơ chế, quy mô chế biến còn nhỏ và công nghệ bảo quản sau thu hoạch ở nhiều nơi còn hạn chế. Đây là những vấn đề tỉnh đang tập trung tháo gỡ trong thời gian tới.
* Vậy, ông có lời khuyên gì đối với nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã trong việc áp dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp?
- Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, chúng tôi khuyến khích người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã cần chủ động hơn trong tiếp cận và ứng dụng KHCN vào sản xuất.

Sản phẩm sầu riêng sấy thăng hoa của Công ty cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu Green Tropical. Ảnh: Quang Tấn
Trước hết, cần thay đổi tư duy từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn ứng dụng KHCN với nhu cầu thị trường; chú trọng các tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu.
Đồng thời, cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý để tiếp cận công nghệ mới; mạnh dạn tham gia các chương trình hỗ trợ của Nhà nước về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Người dân và doanh nghiệp cũng cần lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế, tránh đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả; từng bước ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Về phía cơ quan quản lý, Sở KH&CN sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KHCN theo nhu cầu thực tiễn; thúc đẩy liên kết “Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - người dân” nhằm đưa KHCN trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn của tỉnh.
* Vậy những giải pháp trọng tâm mà Sở KH&CN sẽ triển khai trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, thưa ông?
Trong thời gian tới, Sở KH&CN sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy mạnh hơn việc ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp, từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.

Thúc đẩy hoạt động truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ và phát triển các sản phẩm OCOP là một trong những giải pháp nâng cao giá trị nông sản Gia Lai. Ảnh: Quang Tấn
Một trong những định hướng trọng tâm là tiếp tục đổi mới cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ KHCN theo hướng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, doanh nghiệp và thị trường.
Các nhiệm vụ nghiên cứu sẽ ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế như phát triển giống cây trồng chất lượng cao, công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu nông sản, phát triển dược liệu và chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Cùng với đó, Sở sẽ tiếp tục hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng KHCN hiệu quả; thúc đẩy hoạt động truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ và phát triển các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng địa phương.
Đối với các sản phẩm chủ lực như chanh dây, cà phê, dược liệu, trái cây và nông sản chế biến, tỉnh sẽ tiếp tục hỗ trợ hoàn thiện quy trình sản xuất, bảo quản và chế biến nhằm nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Ngoài ra, với lợi thế vừa có vùng nguyên liệu lớn của Tây Nguyên, vừa có hệ thống logistics, công nghiệp chế biến và cảng biển khu vực duyên hải, Sở sẽ tham mưu thúc đẩy mạnh hơn liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp tiêu thụ và thị trường xuất khẩu, từng bước hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại và bền vững.
Từ đó, từng bước đưa KHCN và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn của tỉnh Gia Lai trong giai đoạn mới.












