Khơi mạch nguồn nội sinh văn hóa để thực hiện hiệu quả 'Bộ tứ trụ cột' đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết mang tầm chiến lược, trong đó nổi bật là 'Bộ tứ trụ cột'. Sức mạnh đột phá của bộ tứ nghị quyết này không chỉ nằm ở mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể, mà sâu xa hơn bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa được thể hiện nhất quán trong từng nghị quyết. Khơi mạch nguồn nội sinh văn hóa dân tộc để đưa các nghị quyết triển khai hiệu quả trong thực tiễn là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần tạo sức lan tỏa mạnh mẽ và huy động sức mạnh to lớn của toàn xã hội đưa đất nước phát triển bứt phá.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Triển lãm "Những thành tựu trong phát triển kinh tế tư nhân và các gian hàng trưng bày sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân" tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị _Nguồn: nhandan.vn
“Bộ tứ trụ cột” - bốn nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết số 59-NQ/TW về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển khu vực kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật, thể hiện sự nhạy bén trong nắm bắt xu thế vận động của thời đại, tư duy phát triển chiến lược, toàn diện, có chiều sâu và có tầm nhìn dài hạn của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Bốn nghị quyết tạo nên “trụ đỡ” để cấu trúc lại các động lực tăng trưởng, trong đó mạch nguồn văn hóa được thể hiện xuyên suốt, kết nối các quan điểm, chính sách, tạo chiều sâu bền vững cho sự phát triển.
Xây dựng văn hóa tự tin, đổi mới sáng tạo
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57-NQ/TW) được xem là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là “động lực chính” cho sự phát triển. Không chỉ đơn thuần là văn bản chính sách mang tính kỹ thuật thuần túy, Nghị quyết 57-NQ/TW thực chất là một “cuộc cách mạng” về tư duy, góp phần thay đổi tâm thức xã hội và kiến tạo văn hóa tự tin và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết đã nhận diện và đề ra các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những rào cản lớn đối với sự sáng tạo ở Việt Nam, đó là tâm lý tiêu cực như “sợ trách nhiệm”,“ngại rủi ro”, “an toàn là trên hết”, “không đi đầu, không đi cuối”, “bảo thủ”, “hữu khuynh”để xây dựng văn hóa “tự tinvà đổi mới, sáng tạo”,để tinh thần “bảy dám”(dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với những khó khăn, thử thách) trở thành hiện thực. Bằng việc cho phép thí điểm, chấp nhận độ trễ và thúc đẩy cơ chế đầu tư mạo hiểm, Đảng ta đang nỗ lực cởi trói cho tư duy, tạo ra không gian an toàn cho sự thử nghiệm và đột phá. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành khoa học - công nghệ, mục tiêu không dừng ở việc mua hoặc ứng dụng công nghệ, mà cao hơn là sự thay đổi tư duy của cả xã hội - từ việc phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu sang tự chủ năng lực, tự sáng tạo ra công nghệ của chính mình. Song song đó, Nghị quyết 57-NQ/TW còn thể hiện đậm nét khát vọng tự chủ, tự cường, vượt qua tâm lý “tự ti dân tộc” để đánh thức “lòng tự tôn dân tộc” trong kỷ nguyên số - một thành tố vô cùng quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Mục tiêu làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược - là con đường để Việt Nam thoát khỏi sự phụ thuộc, vượt qua nguy cơ tụt hậu và tránh bẫy thu nhập trung bình, để sánh vai với các quốc gia phát triển.
Nghị quyết 57-NQ/TW đã “hiện đại hóa”, “cụ thể hóa” và “thể chế hóa” truyền thống trọng dụng nhân tài của cha ông ta “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” phù hợp với bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về công nghệ. Nếu trong lịch sử, “nguyên khí quốc gia” là các bậc sĩ phu, trạng nguyên, trong kỷ nguyên mới chính là các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trên các lĩnh vực, bộ phận trí thức tinh hoa, nhất là các chuyên gia, các kỹ sư công nghệ - những “hiền tài” của thời đại mới. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực, nhân tài khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong và ngoài nước, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn (như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, vật liệu mới… ); xây dựng Đề án Phát triển, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chuyên gia đầu ngành phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; triển khai Chiến lược thu hút nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn 2050”(1). Các ban, bộ, ngành khẩn trương ban hành cơ chế, chính sách đãi ngộ đặc biệt, vượt trội, vượt khung về lương, nhà ở, môi trường làm việc để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài, bao gồm cả các chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu là người Việt Nam ở nước ngoài, với mục tiêu thu hút ít nhất 100 chuyên gia hàng đầu về nước làm việc. Với Nghị quyết này, giá trị văn hóa đã trở thành sức mạnh nội sinh, lợi thế cạnh tranh quốc gia, đặt nền móng cho nền khoa học - công nghệ mang đậm dấu ấn và trí tuệ con người Việt Nam.
Xây dựng văn hóa bản lĩnh và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Nghị quyết 59-NQ/TW) đánh dấu bước ngoặt trong đổi mới tư duy và định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam, chuyển từ tâm thế “mở cửa để tiếp nhận” sang “chủ động, tích cực tham gia và đóng góp”. Nghị quyết 59-NQ/TW không chỉ vạch ra lộ trình hội nhập toàn diện và sâu rộng hơn, mà còn thể hiện qua chủ trương mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, với mục tiêu cuối cùng là tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Mục tiêu chiến lược đặt ra là đưa Việt Nam từ một quốc gia chỉ biết chấp nhận “tham gia cuộc chơi” trở thành quốc gia có khả năng “định hình và kiến tạo luật chơi” ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu.
Một trong những điểm nhấn đặc sắc nhất của Nghị quyết 59-NQ/TW là yêu cầu hội nhập phải “có bản lĩnh và có bản sắc”. Điều này khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ trong quá trình hội nhập để “làm sức đề kháng”, mà còn là nguồn lực đặc biệt tạo nên “sức mạnh mềm” cần được chủ động khai thác, phát huy và lan tỏa. Trong kỷ nguyên vươn mình, “sức mạnh mềm” văn hóa của dân tộc Việt Nam cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa, không ngừng sáng tạo, tích hợp các yếu tố thời đại và quốc tế, góp phần định vị thương hiệu và gia tăng tầm ảnh hưởng quốc gia của Việt Nam.
Tư duy phản ánh sự am hiểu sâu sắc và tự tin về văn hóa dân tộc Việt Nam. Thay vì chỉ lo “giữ” bản sắc trước nguy cơ bị “hòa tan” bởi văn hóa ngoại lai, Việt Nam chủ động sử dụng văn hóa như loại “tài sản chiến lược”, “sức mạnh mềm” để tăng cường sự hiện diện và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thực tiễn cho thấy, nhiều quốc gia hội nhập nhanh nhưng không kịp xây dựng “sức đề kháng văn hóa” nên đã rơi vào tình trạng “hòa tan”, mất đi bản sắc, lối sống và hệ giá trị riêng. Đối với Việt Nam, hội nhập văn hóa là quá trình giao thoa, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm, phong phú thêm cho văn hóa dân tộc, không làm phai nhạt bản sắc riêng có, đồng thời khẳng định và lan tỏa những giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Đây chính là sự chuyển dịch từ vị thế thụ động sang vị thế chủ động “tiến công” trong chính sách đối ngoại của đất nước ta trong kỷ nguyên mới.
Kiên định mục tiêu tối thượng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt và quan trọng nhất, phản ánh di sản của hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự tôn dân tộc là những “hằng số” trong văn hóa Việt Nam. Nghị quyết 59-NQ/TW tiếp tục khẳng định, hội nhập quốc tế là phương tiện để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chủ trương này thể hiện rõ bản lĩnh Việt Nam: Hòa nhập với thế giới nhưng luôn giữ vững lập trường, bảo vệ độc lập, tự chủvàmôi trường hòa bình để phát triển.
Chủ trương đẩy mạnh đối ngoại đa phương, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm phản ánh truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tinh thần cộng đồng của người Việt. Văn hóa truyền thống Việt Nam luôn đề cao sự hòa thuận, “tắt lửa tối đèn có nhau”. Trong chính sách đối ngoại hiện đại, tinh thần này được nâng tầm thành phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa”, xây dựng một mạng lưới quan hệ quốc tế rộng mở, cân bằng. Việc chủ động, tích cực đóng góp tại các diễn đàn đa phương thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giới thiệu Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon nhạc cụ truyền thống của Việt Nam _Ảnh: TTXVN
Nghị quyết 59-NQ/TW nhấn mạnh tinh thần hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, từ đó làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa “hội nhập toàn diện” và “tăng cường nội lực quốc gia”. Quan điểm này bắt nguồn sâu xa từ triết lý tự lực cánh sinh của dân tộc ta. Lịch sử đã chứng minh, sức mạnh của Việt Nam luôn đến từ sự đoàn kết toàn dân tộc và phát huy hiệu quả các nguồn lực nội sinh sẵn có của quốc gia. Trong bối cảnh mới, “nội lực quốc gia” không chỉ dừng lại ở sức mạnh quân sự, kinh tế mà còn bao gồm cả sức mạnh văn hóa, bản lĩnh chính trị và sự đồng thuận xã hội. Nghị quyết chỉ rõ, hội nhập thành công phải dựa trên một nền tảng nội lực vững chắc, ngược lại, hội nhập hiệu quả sẽ giúp bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội sinh, tạo sự phát triển bền vững.
Nghị quyết 59-NQ/TW đề rõ chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, thể hiện tính hiện đại, thấm đượm tinh thần dân tộc. Các chủ trương trong Nghị quyết cho thấy tầm nhìn xa, trong đó bản sắc văn hóa dân tộc chính là nền tảng, là “la bàn định hướng” và là sức mạnh nội sinh để Việt Nam tự tin vươn ra thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật mang bản sắc riêng
Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật (Nghị quyết 66-NQ/TW) đánh dấu cột mốc mang ý nghĩa lịch sử trọng đại của dân tộc, được xác định là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước. Tinh thần chỉ đạo thể hiện trong Nghị quyết này tạo ra cuộc cải cách thể chế căn bản, toàn diện, chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển” và “phục vụ”, dứt khoát từ bỏ nếp nghĩ “không quản được thì cấm” nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại, minh bạch, khả thi, vì người dân và doanh nghiệp. Qua việc dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” để hình thành tư duy “thể chế phải phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, vì người dân và doanh nghiệp”(2), Nghị quyết 66-NQ/TW đã hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(3).
Sự chuyển đổi này không dừng lại ở kỹ thuật lập pháp đơn thuần mà là một cuộc cách mạng về văn hóa pháp lý. Một trong những mục tiêu lớn Nghị quyết 66-NQ/TW đề ra, đó là: “Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tồn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”(4). Điều này có nghĩa là pháp luật phải thực sự “sống” trong đời sống xã hội và thấm sâu vào ý thức, hành động của mỗi người dân, mỗi cán bộ và mỗi doanh nghiệp. Pháp luật được xây dựng trên cơ sở tinh thần dân chủ, minh bạch, phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân và được thực thi nghiêm minh sẽ là công cụ quản lý, đồng thời trở thành giá trị văn hóa “chấp hành pháp luật” của toàn xã hội. Đây chính là quá trình kiến tạo niềm tin xã hội - nền tảng căn cốt cho phát triển bền vững.
Nghị quyết 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu hệ thống pháp luật phải “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, phải phù hợp với điều kiện cụ thể, trình độ phát triển, truyền thống lịch sử và văn hóa của đất nước, đồng thời phải “tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại” để tiệm cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tiên tiến. Cách tiếp cận này phản ánh sự thấu hiểu sâu sắc về bối cảnh văn hóa Việt Nam, tránh việc áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc các mô hình từ bên ngoài - vốn có thể không phù hợp và tiềm ẩn những hệ lụy tiêu cực - đối với môi trường đầu tư, kinh doanh và đời sống xã hội trong nước. Qua đó, Đảng ta chủ trương xây dựng một hệ thống pháp luật vừa hiện đại, hội nhập, vừa mang đậm dấu ấn Việt Nam, phục vụ đắc lực và hiệu quả nhất cho sự nghiệp phát triển của dân tộc.

Tổng Bí Thư Tô Lâm làm việc với Ban Nội chính Trung ương _Ảnh: TTXVN
Khơi dậy văn hóa kinh doanh và tinh thần phụng sự Tổ quốc
Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68-NQ/TW) tạo bước ngoặt lịch sử khi lần đầu tiên xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”(5). Vượt qua những định kiến và rào cản tư duy cố hữu, Nghị quyết 68-NQ/TW được ví như một “lời hiệu triệu” nhằm tháo gỡ mọi “điểm nghẽn”, mở đường cho kinh tế tư nhân bứt phá. Một trong những dấu ấn của Nghị quyết 68-NQ/TW là chú trọng xây dựng nền tảng văn hóa cho sự phát triển của kinh tế tư nhân, trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo; “Lấy đạo đức, văn hóa kinh doanh làm cốt lõi, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật”(6). Nghị quyết 68-NQ/TW chỉ rõ, văn hóa kinh doanh không chỉ là đạo đức nghề nghiệp của doanh nhân, mà còn là tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên, tính kỷ luật, sự minh bạch và trách nhiệm với cộng đồng. Những nội dung nói trên không chỉ là yêu cầu về mặt phẩm chất, tư cách cá nhân mà còn là nền tảng quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của chính mỗi doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Nghị quyết 68-NQ/TW cổ vũ mạnh mẽ tinh thần “làm giàu chính đáng”, thổi một luồng sinh khí mới, tiếp thêm động lực cho hành trình khởi nghiệp và thổi bùng khát vọng làm giàu trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước. Có thể nói, Nghị quyết 68-NQ/TW đang thực hiện một cuộc “giải mã văn hóa”, định hình lại hệ giá trị xã hội, đặt hoạt động kinh doanh và làm giàu chân chính vào vị trí trung tâm. Thông qua đó, việc kiến tạo một môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh - nơi hoạt động kinh doanh được khuyến khích và doanh nhân được tôn vinh, chính là mảnh đất màu mỡ nhất để gieo mầm, phát triển đội ngũ doanh nhân dân tộc hùng hậu, có đủ tâm và tầm, đưa đất nước vững vàng tiến lên.
Đặc biệt, Nghị quyết 68-NQ/TW đã huy động tinh thần dân tộc trong cộng đồng doanh nhân cả nước bằng cách gắn chặt hoạt động sản xuất - kinh doanh với sứ mệnh phụng sự Tổ quốc. Việc trang trọng gọi doanh nhân là những “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế” và khơi dậy mạnh mẽ “tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, khát vọng cống hiến” đã nâng tầm mục tiêu của hoạt động kinh doanh, từ hoạt động kinh tế đơn thuần trở thành sứ mệnh quốc gia. Lịch sử dân tộc đã chứng kiến nhiều tấm gương doanh nhân yêu nước sẵn sàng hy sinh tài sản cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc để đổi lấy hòa bình cho ngày hôm nay; ngày nay, niềm vinh dự lớn lao của đội ngũ doanh nhân chính là được cống hiến cho Tổ quốc bằng tài năng kinh doanh của mình. Qua đó, Nghị quyết 68-NQ/TW truyền đi thông điệp mạnh mẽ về “lòng yêu nước” - thành tố cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam, góp phần huy động được nguồn lực nội sinh to lớn nhất của quốc gia và tinh thần, khát vọng vươn lên của hàng triệu con người Việt Nam.
Tựu trung lại, hồn cốt và sức mạnh của “Bộ tứ trụ cột” được hun đúc bởi một dòng chảy văn hóa mãnh liệt, khơi dậy giá trị văn hóa trường tồn của dân tộc (tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu nước, thương dân, khát vọng vươn lên, ý chí tự lực, tự cường, tự hào dân tộc), đồng thời kiến tạo và cụ thể hóa thành hệ giá trị mới của thời đại (văn hóa đổi mới sáng tạo, văn hóa tự tin và bản lĩnh, văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa đạo đức kinh doanh, văn hóa hội nhập) và khẳng định hệ giá trị mới của con người Việt Nam.
Sự cộng hưởng của những giá trị văn hóa đó tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn, biến ý chí chính trị của Đảng thành hành động cách mạng của toàn dân tộc. “Bộ tứ trụ cột” đã đáp ứng đúng vận hội của đất nước và nguyện vọng tha thiết của nhân dân, thể hiện sự thống nhất cao giữa “ý Đảng - lòng Dân”; là mệnh lệnh phát ra từ tương lai của dân tộc, là lời hiệu triệu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, dấn thân hành động, không ngừng tiến về phía trước. Sự đón nhận, hưởng ứng mạnh mẽ, cùng niềm tin và sự phấn khởi đang lan tỏa trong mọi tầng lớp xã hội chính là minh chứng sống động nhất cho tính đúng đắn, kịp thời và tầm nhìn chiến lược của những chủ trương quan trọng này. Đó là sức mạnh văn hóa, cơ sở để củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực quý báu nhất cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Văn hóa không chỉ là hồn cốt của dân tộc, mà còn là sức mạnh hội tụ - nơi những giá trị tinh thần, tri thức, đạo đức, pháp lý và sáng tạo cùng kết tinh, cùng tạo thành động lực phát triển. “Bộ tứ trụ cột” gắn với “sức mạnh mềm”, “nguồn lực nội sinh”, “dòng chảy” văn hóa tạo sự kết nối bền chặt, góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp xây dựng và phát triển đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.
"Bộ tứ trụ cột" một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của văn hóa, sức mạnh của văn hóa mà Đảng, Bác Hồ đã xác định ngay từ rất sớm. Tư tưởng "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm "Văn hóa là sức mạnh nội sinh và là động lực trực tiếp để phát triển đất nước bền vững" của Đảng ta cần được thể hiện đậm nét trong các văn kiện đại hội đảng bộ các cấp, nhất là đại hội đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội XIV của Đảng, là kim chỉ nam khi đề ra và tổ chức thực hiện các chủ trương, quyết sách chính trị của các địa phương trong cả nước.
(1) TTXVN: “Tổng Bí thư Tô Lâm: Ưu tiên các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”, Báo VietnamPlus, ngày 2-7-2025, https://www.vietnamplus.vn/tong-bi-thu-to-lam-uu-tien-cac-nhiem-vu-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-post1047658.vnp
(2) Xem: Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/5/6/3/NQ-66.pdf
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t..9, tr. 31
(4) Xem: Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/5/6/3/NQ-66.pdf
(5) Xem: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/5/7/5/NQ-68-TW.pdf
(6) Xem: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/5/7/5/NQ-68-TW.pdf
TS Võ Văn Dũng (*) Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương