Khơi thông nguồn lực đổi mới sáng tạo và năng lượng xanh

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định rõ yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, khơi thông các nguồn lực cho tăng trưởng.

Nhà máy Điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Nhà máy Điện mặt trời Trung Nam Trà Vinh. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Trong quá trình triển khai, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và năng lượng, nhiều “điểm nghẽn” về tư duy, thể chế và cơ chế quản lý đã được nhận diện rõ hơn và từng bước được tháo gỡ bằng các giải pháp cụ thể, tạo chuyển động thực chất trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Cú hích từ thay đổi tư duy chiến lược trong ngành năng lượng

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Chuyên gia tư vấn độc lập, giảng viên Khoa Quản lý Công nghiệp và Năng lượng (Đại học Điện lực) nhận định, Nghị quyết 68 là một "cú hích" mang tính chiến lược đối với cấu trúc nền kinh tế. Trong bối cảnh mới, sự tham gia của tư nhân vào mảng năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời là sự lựa chọn để đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, việc chuyển dịch từ vai trò chủ đạo tuyệt đối của Nhà nước sang sự đồng hành của tư nhân giúp xóa bỏ các "định kiến" về sân chơi độc quyền. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực nợ công trong đầu tư hạ tầng năng lượng mà còn thúc đẩy một thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả hơn. Tuy chính sách đã rộng mở, song Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn cũng thẳng thắn chỉ ra những “nút thắt” cản trở mục tiêu dài hạn như: Việc triển khai ở một số địa phương còn chậm, năng lực cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, tâm lý e ngại khi chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp vẫn hiện hữu.

Phân tích sâu hơn, Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn cho rằng khả năng hấp thụ của lưới điện quốc gia hiện chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các dự án tư nhân. Để giải quyết vấn đề này, ông kiến nghị Nghị quyết 68 cần được cụ thể hóa bằng các cơ chế pháp lý cho phép tư nhân tham gia đầu tư vào hạ tầng truyền tải - lĩnh vực vốn là độc quyền của Nhà nước. Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong truyền tải điện được xem là giải pháp cấp thiết để tránh lãng phí nguồn lực xã hội khi nhiều dự án phải "đắp chiếu" chờ đấu nối do hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng kịp.

Bên cạnh các vấn đề về cơ chế vận hành, Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn bày tỏ quan ngại về việc doanh nghiệp tư nhân nội địa hiện nay chủ yếu dừng lại ở khâu lắp đặt thiết bị ngoại nhập, khiến giá trị gia tăng để lại trong nước còn thấp. Ông khẳng định mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết 68 phải là bệ đỡ để hình thành các tập đoàn năng lượng tư nhân nội địa đủ mạnh, có khả năng làm chủ công nghệ lõi và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để hiện thực hóa điều này, Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn khuyến nghị Chính phủ cần có những chính sách ưu đãi thuế thực chất cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời bảo hộ mạnh mẽ sở hữu trí tuệ để doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Ngoài ra, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động chuyển mình để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đúng "cơn khát" nhân lực trình độ cao cho các dự án năng lượng xanh.

Cải cách thể chế, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường

Ở một góc nhìn rộng hơn về động lực tăng trưởng, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) khẳng định, Nghị quyết 68 và Văn kiện Đại hội XIV đã xác định rất rõ chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là giải pháp “có tính cách mạng và đột phá”. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng theo mô hình truyền thống dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ và vốn đầu tư đang dần thu hẹp, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi để nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp và thúc đẩy tăng trưởng theo chiều sâu.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên, việc đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng thể hiện tư duy phát triển mới, chuyển từ khai thác nguồn lực sẵn có sang kiến tạo nguồn lực tri thức và công nghệ mới. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế tri thức mà còn là điều kiện để Việt Nam tận dụng hiệu quả các cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tránh nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ đang tập trung tháo gỡ ba hạn chế lớn mang tính "kinh niên". Thứ nhất là về cơ chế tài chính, với việc thúc đẩy cơ chế khoán chi theo sản phẩm cuối cùng, cho phép linh hoạt sử dụng kinh phí nghiên cứu và tăng quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì, thay vì quản lý theo chứng từ hành chính như trước.

Thứ hai là về cơ chế sở hữu kết quả nghiên cứu, trong đó đẩy mạnh giao quyền sở hữu và quyền khai thác kết quả nghiên cứu cho tổ chức chủ trì và nhà khoa học nhằm khuyến khích thương mại hóa và thu hút doanh nghiệp tham gia từ sớm.

Thứ ba là về cơ chế liên kết hệ sinh thái, thông qua việc phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, sàn giao dịch công nghệ, tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ mới để các doanh nghiệp tư nhân có không gian sáng tạo an toàn.

Để hiện thực hóa Nghị quyết 68, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên cho biết, thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì sửa đổi, hoàn thiện nhiều luật nền tảng, trong đó có các quy định liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và thử nghiệm công nghệ mới. Điểm đổi mới quan trọng là chuyển từ cách tiếp cận quản lý đầu vào sang đánh giá đầu ra và tác động xã hội, tạo điều kiện để tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà khoa học chủ động lựa chọn phương thức triển khai, rút ngắn chu trình đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.

Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai chương trình cải cách thể chế sâu rộng, chuyển mạnh từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị theo kết quả và theo thị trường. Trọng tâm của cải cách là xây dựng môi trường pháp lý phù hợp, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, đồng thời bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả đầu tư công. Đây là nỗ lực nhằm phá bỏ những rào cản vô hình đang ngăn trở sự sáng tạo của khu vực tư nhân.

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xuyên khẳng định, dù mới ở giai đoạn đầu triển khai, song những thay đổi về thể chế, cơ chế quản lý và phương thức thực hiện đã góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài, mở đường để khu vực kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thanh Hương - Diệu Thúy (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/khoi-thong-nguon-luc-doi-moi-sang-tao-va-nang-luong-xanh-20260222092419581.htm