Khơi thông nguồn lực, hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh Bài 3: 'Đánh thức' động lực tăng trưởng từ biển

Một quốc gia mạnh về biển không thể chỉ dựa vào những ngành kinh tế biển truyền thống. Với Nghị quyết số 20-NQ/TW làm kim chỉ nam, các Bộ, ngành, địa phương có biển đang đứng trước yêu cầu nhìn lại, xác định rõ những ngành, lĩnh vực có lợi thế, định hình bước đi phù hợp để “đánh thức” tiềm năng, khơi thông nguồn lực, đưa kinh tế biển trở thành động lực quan trọng cho phát triển đất nước.

“Đánh thức” những động lực tăng trưởng từ biển. Ảnh: VICM

“Đánh thức” những động lực tăng trưởng từ biển. Ảnh: VICM

Xác định những ngành kinh tế biển mũi nhọn

Chỉ trong 3 quý vừa qua, Đặc khu Phú Quốc đã vượt 1% kế hoạch thu từ du lịch của năm 2026, khi tổng thu từ du lịch tại đây đạt khoảng 45.976 tỷ đồng, tăng 47,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tỉnh An Giang đặt ra định hướng đưa Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch và dịch vụ biển đảo mang tầm quốc tế. Tuy nhiên, nếu nhìn kinh tế biển chỉ qua lăng kính du lịch, Phú Quốc vẫn chưa phát triển được hết tiềm năng. 

Với đường bờ biển dài trên 200km, vùng biển rộng hơn 63.000 km², hệ thống đảo phong phú cùng nền kinh tế biển đóng góp gần 80% GRDP, An Giang đang đứng trước thời cơ lớn để phát triển bứt phá, trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia. Tỉnh xác định 4 động lực tăng trưởng gồm: Du lịch biển; khai thác bền vững, nuôi biển công nghệ cao kết hợp với bảo tồn; kinh tế hàng hải, logistics và kinh tế đô thị ven biển; năng lượng tái tạo ngoài khơi và ven biển.

“Đây là những lĩnh vực có đóng góp to lớn trong tổng GRDP toàn tỉnh; đồng thời, tỉnh sẽ tận dụng vị thế cửa ngõ hành lang “Mêkong - biển Tây” để phát triển logistics hàng hải, phát huy tối đa sức mạnh của “tam giác đô thị động lực” Phú Quốc - Rạch Giá - Hà Tiên” - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ngô Công Thức cho biết.

TP. Hồ Chi Minh cũng đang nổi lên như trung tâm cảng biển lớn của khu vực, với hệ thống gồm cảng Cát Lái và cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, Thành phố có thêm dư địa phát triển, đồng thời sở hữu hạ tầng cảng có khả năng tiếp nhận các tàu container lớn nhất thế giới. Lợi thế này đang tạo nền tảng để TP. Hồ Chí Minh phát triển thành trung tâm cảng biển quy mô lớn của khu vực.

Xác định các động lực tăng trưởng gắn với biển và phù hợp với đặc thù của từng địa phương để khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh cũng chính là tinh thần được đặt ra xuyên suốt trong Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

TS. Vũ Hải Đăng - Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao - cho rằng, Nghị quyết số 20-NQ/TW hướng đến tinh thần hành động và đặt ra trách nhiệm của từng địa phương trong việc xác định các động lực tăng trưởng từ biển. “Các ngành kinh tế biển chủ lực cần được ưu tiên phát triển song song với việc hình thành các ngành kinh tế biển mới như dữ liệu biển, công nghệ sinh học biển, vật liệu mới... Các ngành này hứa hẹn đem lại nhiều giá trị gia tăng và giúp nâng cao hàm lượng chất xám cho hoạt động khai thác biển Việt Nam” - TS. Vũ Hải Đăng cho biết.

Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ từ kinh tế biển

Việt Nam nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, thuận lợi kết nối các trung tâm sản xuất của Đông Nam Á với thị trường thế giới, tuy nhiên đến nay, nước ta chưa hình thành được trung tâm trung chuyển quốc tế mạnh. Một trong những giải pháp nhằm khơi thông, theo các chuyên gia, đó là phát triển dịch vụ logistics, hàng hải, sửa chữa và đóng tàu, dịch vụ cảng - nhóm động lực tăng trưởng từ biển quan trọng nhất hiện nay. “Các ngành kinh tế này có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần hình thành các ngành công nghiệp hỗ trợ với sức ảnh hưởng rộng lớn” - Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Việt Dũng cho biết.

Dẫn chứng từ ngành công nghiệp đóng tàu, TS. Phạm Hoài Chung - Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật tàu thủy Việt Nam - cho rằng, đây không chỉ là một ngành sản xuất, mà là một cấu phần của hạ tầng công nghiệp - logistics - kinh tế biển, có vai trò trực tiếp trong việc hình thành năng lực quốc gia trên biển và đảm bảo quốc phòng - an ninh biển. Giá trị giá tăng do ngành công nghiệp này mang lại là vô cùng to lớn.

Tổng giá trị của toàn bộ hệ sinh thái vận tải biển - công nghiệp - logistics Việt Nam nếu được quan tâm đầu tư sẽ tạo giá trị ước khoảng 10-15 tỷ USD/năm cho nền kinh tế Việt Nam; giải quyết khoảng 35.000-40.000 việc làm trực tiếp và lan tỏa tạo ra khoảng 500.000-700.000 việc làm gián tiếp. 

Theo ông Chung, nếu so sánh với quy mô nền kinh tế Việt Nam 2025 là khoảng 450 tỷ USD/năm và dự báo đến năm 2030 xấp xỉ 750-780 tỷ USD thì giá trị đóng góp của ngành đóng tàu Việt Nam và hệ sinh thái công nghiệp dự báo có thể tăng thêm gấp 1,8-2,5 lần. “Nếu được tổ chức đúng (chuỗi cung ứng nội địa + năng lực thiết kế + tài chính), đóng tàu có thể trở thành “cực tăng trưởng công nghiệp”, đóng góp đáng kể vào mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số” - TS. Chung cho biết.

Một lĩnh vực khác là năng lượng tái tạo trên biển. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công suất điện gió ngoài khơi khoảng 600 GW26, là nguồn điện rất lớn so với khu vực và thế giới. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thị trường điện gió ngoài khơi với quy mô 5-10 GW vào năm 2030, giúp tạo ra tổng giá trị gia tăng hơn 60 tỷ USD cho nền kinh tế. Điều quan trọng, mỗi mắt xích trong vòng đời dự án đều tạo ra nhu cầu đối với các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, thiết bị điện, cáp ngầm, dịch vụ hàng hải, logistics và đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật.

Theo nghiên cứu, mỗi 1 USD giá trị tạo ra trong ngành có thể kéo theo khoảng 2-3 USD trong chuỗi cung ứng công nghiệp và tổng cộng 3-5 USD trong toàn bộ hệ sinh thái vận tải biển - công nghiệp - logistics. Mỗi 1 việc làm ngành đóng tàu có khả năng tạo ra 10-20 việc làm gián tiếp trong công nghiệp hỗ trợ và tổng tác động đến toàn bộ nền kinh tế có thể vượt trên >20 lần, phản ánh hệ số lan tỏa kinh tế - xã hội rất cao.

Kiến tạo không gian phát triển bền vững cho kinh tế biển

Thực tiễn cho thấy, việc định hình các ngành kinh tế đóng vai trò là động lực kinh tế biển chiến lược là bước khởi đầu để mở ra cánh cửa kinh tế biển bền vững. Điều quan trọng là cần có một “không gian sống” cho các động lực chiến lược này - vấn đề từng là trở ngại với các địa phương trước đây.

Ông Hồ Kim Lân - Tổng Thư ký Hiệp hội cảng biển Việt Nam - cho biết, cảng biển giữ vai trò then chốt của kết cấu hạ tầng và Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển cảng biển trở thành trung tâm trung chuyển của quốc tế. Tuy nhiên, việc thiếu quy hoạch phù hợp trong thời gian dài trước đó khiến các cảng biển chưa phát huy được thế mạnh. Nói cách khác là thiếu đi một không gian phù hợp để phát triển các ngành kinh tế biển.

Thực tiễn từ các địa phương cho thấy nhiều tiềm năng vẫn đang bị kìm hãm bởi những rào cản về hạ tầng, liên kết vùng và phân bổ không gian phát triển. Tại Quảng Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Công chỉ ra bốn “nút thắt” lớn gồm: Độ mở kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng cảng biển; hạ tầng còn hạn chế; mâu thuẫn không gian giữa công nghiệp, du lịch và bảo tồn. Để tháo gỡ, địa phương đang triển khai đồng bộ các giải pháp như quản lý không gian biển theo 3 hành lang kinh tế chức năng, phát triển hạ tầng logistics biển chuyên sâu, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị biển và phát triển các ngành kinh tế biển mới.

Từ góc độ đơn vị kiểm toán, đại diện Kiểm toán nhà nước khu vực XI nêu kiến nghị, cơ chế quản lý cần bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch không gian biển, quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương và quy hoạch các công trình hạ tầng có liên quan.

Đối với tỉnh Thanh Hóa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Cường cho biết tỉnh xác định kinh tế biển là trụ cột phát triển với 5 lĩnh vực trọng tâm gồm cảng biển và logistics, công nghiệp ven biển, du lịch biển, thủy sản và liên kết vùng. Thanh Hóa kiến nghị cần có định hướng rõ hơn về quy hoạch không gian biển và các cơ chế ưu đãi đặc thù nhằm thu hút đầu tư, hỗ trợ ngư dân bám biển gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Từ du lịch, cảng biển - logistics, công nghiệp đóng tàu đến năng lượng tái tạo ngoài khơi…, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành những “mũi nhọn” tăng trưởng mới từ biển. Nhưng để tiềm năng thực sự chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng, việc nhận diện rào cản và xác định rõ lợi thế của từng địa phương là chưa đủ. Đưa Nghị quyết số 20-NQ/TW vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả đòi hỏi phải có những bước đi đột phá để tháo gỡ điểm nghẽn, mở rộng không gian phát triển, đưa kinh tế biển trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển đất nước. Báo Kiểm toán sẽ tiếp tục thông tin trong bài viết tiếp theo./.

NHÓM PV

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/khoi-thong-nguon-luc-hien-thuc-hoa-khat-vong-quoc-gia-bien-manh-bai-3-danh-thuc-dong-luc-tang-truong-tu-bien