Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân bứt phá
Bộ Tài chính vừa có báo cáo kết quả 1 năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đáng chú ý, nhiều chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, tín dụng, nhân lực, chuyển đổi số và mở rộng thị trường đang được triển khai, tạo thêm nguồn lực để khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn.

Khu vực kinh tế tư nhân đang được tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn các nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh. (Ảnh: MINH PHƯƠNG)
Mở rộng tiếp cận đất đai, vốn và công nghệ
Tại họp báo thường kỳ quý I/2026 của Bộ Tài chính, bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể cho biết, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian qua là nhanh chóng chuyển các định hướng lớn của Nghị quyết số 68-NQ/TW thành các quy định cụ thể có thể áp dụng ngay trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành các nghị quyết liên quan, Chính phủ đồng thời xây dựng và ban hành các nghị định hướng dẫn nhằm sớm đưa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vào cuộc sống.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, một trong những trọng tâm lớn sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành là tháo gỡ các khó khăn liên quan đến tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, tín dụng, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Để thể chế hóa các chủ trương này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết tập trung vào các nhóm chính sách giảm chi phí đầu vào, cải thiện khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực đất đai, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15. Theo đó, địa phương được sử dụng ngân sách để hỗ trợ một phần chi phí đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ.
Các khoản hỗ trợ bao gồm giải phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư, hạ tầng giao thông, điện, nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc. Trên cơ sở phần hạ tầng được Nhà nước hỗ trợ, chủ đầu tư có trách nhiệm dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê hoặc thuê lại với mức hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu.
Theo bà Trịnh Thị Hương, các địa phương đang tích cực triển khai các chính sách hỗ trợ theo định hướng của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Theo các quy định đã được ban hành, một phần diện tích đất trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm được dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê hoặc thuê lại. Cùng với đó, cơ chế giảm chi phí thuê đất đang được áp dụng nhằm giảm áp lực chi phí đầu vào, tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động.
Đáng chú ý, mỗi khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp phải bố trí tối thiểu 20ha hoặc 5% diện tích đất công nghiệp để dành cho các doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng này.
Cùng với đó, Chính phủ cũng tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 254/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai trên phạm vi toàn quốc.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cơ bản hoàn thiện Cơ sở dữ liệu đất đai theo hướng “đúng-đủ-sạch-sống”, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh tiếp cận, tra cứu và khai thác thông tin đất đai hợp pháp.
Về nguồn vốn, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng nhằm ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích cho vay theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; thúc đẩy cho vay dựa trên dòng tiền và mở rộng chấp nhận các tài sản bảo đảm là tài sản vô hình hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Nhờ triển khai các giải pháp này, đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 3,65 triệu tỷ đồng, tăng 21,73% so với cuối năm 2024.
Một chính sách đáng chú ý khác là Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, dự án tuần hoàn hoặc áp dụng các tiêu chuẩn ESG.
Chính phủ hiện đang xem xét ban hành các nghị định hướng dẫn để triển khai chính sách này trong thực tế. Theo báo cáo, cơ chế này kỳ vọng góp phần giảm chi phí vốn, tăng khả năng hấp thụ tín dụng và thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào các dự án góp phần phát triển kinh tế xanh.
Theo Nghị quyết số 198/2025/QH15, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện cho vay, cho vay khởi nghiệp, tài trợ vốn ban đầu cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư vào các quỹ đầu tư nhằm tăng nguồn cung vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện nay, Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo Nghị định về hoạt động của Quỹ để trình Chính phủ xem xét.
Không chỉ hỗ trợ về đất đai và vốn, Chính phủ còn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tư nhân. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 theo Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026.
Chương trình hướng tới hình thành đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp có năng lực quản trị hiện đại, tư duy chiến lược, đạo đức kinh doanh, thượng tôn pháp luật và khả năng dẫn dắt chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững.
Bà Trịnh Thị Hương cho biết, bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, nhiều chương trình hỗ trợ quy mô lớn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Trong đó có Chương trình đào tạo 10.000 CEO, Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong và Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế. Bộ Tài chính hiện đang khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn để sớm đưa các chương trình này vào thực tiễn.
Bên với đó, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 80/2021/NĐ-CP tiếp tục được triển khai, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo, tuân thủ pháp luật và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tạo nền tảng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường khu vực và toàn cầu
Bên cạnh việc khơi thông các nguồn lực truyền thống, một điểm nhấn đáng chú ý trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW là thúc đẩy chuyển đổi số, hỗ trợ hộ kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển quy mô lớn hơn.
Theo Bộ Tài chính, công tác hỗ trợ hộ kinh doanh được triển khai theo hướng thực chất hơn. Ngành Thuế đã thành lập các tổ công tác hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở; xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp với từng nhóm hộ kinh doanh; tổ chức hướng dẫn tại các tuyến phố, khu chợ và triển khai chiến dịch cao điểm hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi.
Cùng với đó, cơ quan thuế đẩy mạnh cung cấp miễn phí các dịch vụ thuế điện tử trên Cổng dịch vụ công và ứng dụng eTax Mobile, tạo điều kiện để hộ kinh doanh thực hiện đăng ký, kê khai và nộp thuế bằng phương thức điện tử.

Ngành thuế tăng cường hỗ trợ hộ kinh doanh triển khai hóa đơn điện tử và các dịch vụ thuế số.
Đến tháng 12/2025, cả nước có hơn 1,04 triệu hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile trên tổng số gần 1,14 triệu hộ kinh doanh ổn định thuộc diện nộp thuế, đạt trên 91,5%. Tỷ lệ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế điện tử đạt 99%.
Kết quả chuyển đổi số tiếp tục được mở rộng trong năm 2026. Tính đến ngày 2/5/2026, số hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile trên toàn quốc đạt hơn 2,48 triệu hộ trên tổng số hơn 3,07 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động theo đăng ký thuế, tương đương khoảng 81%.
So với thời điểm trước khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, số lượng hộ kinh doanh sử dụng eTax Mobile đã tăng gần 1,952 triệu hộ. Tỷ lệ hộ kinh doanh khai thuế điện tử trên toàn quốc đạt 98,6%; tỷ lệ tờ khai nộp đúng hạn sau kỳ kê khai quý I/2026 đạt 99,8%.
Cùng với các chính sách hỗ trợ về vốn và đất đai, các bộ, ngành cũng đang phối hợp triển khai các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo bà Trịnh Thị Hương, việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao năng lực quản trị mà còn tăng khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh.
Cùng với đó, việc triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền tiếp tục được thúc đẩy mạnh. Trong năm 2025, đã có hơn 252.730 cơ sở kinh doanh đăng ký sử dụng hình thức hóa đơn này, gấp 4,8 lần so với cả năm 2024.
Lũy kế đến ngày 30/4/2026, số hộ kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền đạt hơn 303.000 hộ, tăng khoảng 50% so với thời điểm cuối năm 2025.
Những kết quả trên cho thấy mức độ sẵn sàng của hộ kinh doanh đối với phương thức quản lý thuế mới ngày càng được nâng cao, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho lộ trình bãi bỏ thuế khoán.
Không chỉ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, Chính phủ cũng đang từng bước tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào các dự án quy mô lớn, quan trọng quốc gia.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, sau ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã khởi công và khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư khoảng 5,2 triệu tỷ đồng. Trong tổng mức đầu tư này, nguồn vốn tư nhân chiếm gần 75%.
Để tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển quy mô lớn, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030 và Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030.
Các chương trình này hướng tới việc lựa chọn, hỗ trợ và phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân có năng lực dẫn dắt, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Đánh giá về quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, bà Trịnh Thị Hương cho rằng khối lượng công việc lớn, thời gian ngắn trong khi nguồn lực còn hạn chế là những thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, với sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành và sự chủ động của cộng đồng doanh nghiệp, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành và từng bước phát huy hiệu quả.
Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện các chương trình, chính sách đã đề ra, đồng thời tổ chức sơ kết một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW để tiếp tục rà soát, bổ sung các giải pháp phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của doanh nghiệp.











