Không chờ vốn mà chọn giá trị cho tương lai
Chúng ta cần FDI nhưng không phải để mãi đứng ở vị trí gia công. Chúng ta cần nhà đầu tư quốc tế nhưng không phải để doanh nghiệp Việt Nam đứng bên lề chuỗi cung ứng.
Cuối tháng 4 vừa qua, TPHCM trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 4 dự án công nghệ cao tại Khu công nghệ cao TPHCM với tổng vốn hơn 1,23 tỷ USD, trong đó nổi bật là 2 dự án trung tâm dữ liệu có tổng vốn gần 1 tỷ USD.
Tôi chú ý đến thông tin ấy không chỉ vì con số vốn lớn mà vì phía sau đó là dấu hiệu của một sự dịch chuyển: các dòng vốn mới đang không chỉ tìm đến những nơi có lao động rẻ hay đất đai ưu đãi mà tìm đến những không gian có hạ tầng số, năng lượng, nhân lực, dữ liệu, thể chế và khả năng kết nối với tương lai.
Nhìn từ câu chuyện đó, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị triển khai Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là một chỉ đạo về FDI. Với tôi, đó là một tuyên ngôn về tư duy phát triển mới của Việt Nam: không thụ động chờ vốn, không đánh đổi tương lai lấy tăng trưởng ngắn hạn, không lấy số lượng dự án làm thành tích mà phải biết lựa chọn, sàng lọc, đồng hành và biến nguồn lực quốc tế thành năng lực của chính mình.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: QH
Tôi vẫn nghĩ, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều có những câu hỏi riêng. Gần 40 năm trước, khi chúng ta mở cửa, câu hỏi lớn là làm thế nào để có thêm vốn, thêm công nghệ, thêm việc làm, thêm thị trường? Khi đó, mỗi dự án đầu tư nước ngoài là một cánh cửa mở ra với thế giới, mỗi nhà máy mới là một dấu hiệu của niềm tin, mỗi dòng vốn đi vào là một phần của hành trình thoát khỏi khó khăn, khép kín và thiếu thốn.
Nhưng hôm nay, Việt Nam đã ở một vị thế khác. Chính trong bài phát biểu, những con số được nhắc đến rất đáng suy nghĩ: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã chiếm hơn 180% GDP, trong đó khu vực FDI chiếm khoảng 75%. Điều đó cho thấy FDI đã trở thành một bộ phận rất quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào xuất khẩu, sản xuất, việc làm và hội nhập. Nhưng cũng chính con số ấy đặt ra một câu hỏi không thể né tránh: Khi FDI lớn đến như vậy, nội lực của nền kinh tế Việt Nam đã lớn lên tương xứng hay chưa?
Đây là câu hỏi vừa kinh tế, vừa chính trị, vừa văn hóa phát triển. Bởi phát triển không chỉ là có thêm nhà máy, thêm vốn đăng ký, thêm khu công nghiệp. Phát triển đích thực là sau mỗi dòng vốn đi vào thì đất nước có thêm năng lực gì, doanh nghiệp Việt Nam học được gì, người lao động Việt Nam trưởng thành ra sao, công nghệ nào được chuyển giao, tiêu chuẩn quản trị nào được lan tỏa, những mắt xích nào của chuỗi giá trị toàn cầu có sự tham gia sâu hơn của người Việt Nam...
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là thông điệp: Việt Nam không thu hút đầu tư nước ngoài để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ.
Câu nói ấy chạm đến chiều sâu của vấn đề. Chúng ta cần FDI nhưng không phải để mãi đứng ở vị trí gia công. Chúng ta cần nhà đầu tư quốc tế nhưng không phải để doanh nghiệp Việt Nam đứng bên lề chuỗi cung ứng. Chúng ta cần công nghệ nước ngoài nhưng không phải để chỉ vận hành công nghệ của người khác mà phải từng bước học hỏi, hấp thụ, làm chủ và sáng tạo.
Tôi nghĩ đến những người công nhân trong các khu công nghiệp, những kỹ sư trẻ trong các nhà máy điện tử, những sinh viên đang học tự động hóa, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, logistics, tài chính, quản trị. Họ không thể chỉ là lực lượng lao động giá rẻ trong một nền kinh tế mở mà phải trở thành chủ thể của một nền kinh tế đang nâng cấp. Một dự án đầu tư tốt phải mở ra cho họ cơ hội được đào tạo tốt hơn, làm việc trong môi trường chuyên nghiệp hơn, tiếp cận công nghệ cao hơn, bước vào những vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng.
Từ góc nhìn ấy, FDI không chỉ là vốn mà phải là trường học lớn về công nghệ, quản trị, kỷ luật lao động, tiêu chuẩn chất lượng và văn hóa kinh doanh hiện đại. Nhưng trường học ấy chỉ có ý nghĩa nếu chúng ta có khát vọng học, có năng lực học và có thể chế buộc quá trình học hỏi đó phải diễn ra thực chất.
Chính vì vậy, bài phát biểu nhấn mạnh rất rõ yêu cầu phải sàng lọc. Việt Nam không thể tiếp nhận những dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu. Đây không phải là thái độ khắt khe với nhà đầu tư. Đây là trách nhiệm với tương lai đất nước.
Niềm tin chính sách là hạ tầng mềm của quốc gia
Tôi cũng rất tâm đắc với tinh thần không cạnh tranh bằng ưu đãi rẻ mà bằng niềm tin chính sách. Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu, những ưu đãi thuế truyền thống không còn là lợi thế quyết định. Đất rẻ, lao động rẻ, tiêu chuẩn thấp cũng không thể là con đường đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Nhà đầu tư tốt không tìm nơi dễ dãi nhất; họ tìm nơi đáng tin cậy nhất. Họ cần một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, có thể dự báo; cần thủ tục rõ ràng, chi phí tuân thủ thấp, bộ máy chuyên nghiệp; cần quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, dữ liệu được an toàn, hạ tầng được chuẩn bị, nhân lực được đào tạo và chính quyền đồng hành không chỉ trước khi cấp phép mà cả sau khi dự án đi vào vận hành.
Niềm tin chính sách, vì thế, là một loại hạ tầng mềm của quốc gia.

TPHCM luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: Nguyễn Huế
Từ nhiều năm quan sát các chính sách văn hóa, giáo dục, xã hội và phát triển con người, tôi càng thấy rằng điểm nghẽn lớn nhất đôi khi không nằm ở chủ trương mà nằm ở khâu thực thi. Chủ trương đúng nhưng nếu xuống đến bộ, ngành, địa phương lại bị chậm trễ, bị hiểu khác nhau, bị chia cắt bởi lợi ích cục bộ hoặc bị biến thành thủ tục phức tạp, thì niềm tin sẽ bị bào mòn. Nhà đầu tư không chỉ nghe chúng ta nói gì mà nhìn chúng ta làm gì. Người dân, doanh nghiệp Việt Nam cũng vậy.
Bởi thế, yêu cầu “rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm” trong triển khai Nghị quyết 10 có ý nghĩa rất lớn.
Khi thước đo thay đổi, cách làm sẽ thay đổi. Khi cán bộ, cơ quan, địa phương được đánh giá bằng chất lượng phát triển chứ không phải bằng con số bề nổi, chúng ta sẽ tránh được căn bệnh thành tích trong thu hút đầu tư. Khi ưu đãi được gắn với kết quả đầu ra, nhà đầu tư sẽ có trách nhiệm hơn với cam kết. Khi dự án tốt được hỗ trợ tương xứng và dự án vi phạm bị xử lý nghiêm, môi trường đầu tư sẽ công bằng hơn, lành mạnh hơn, đáng tin hơn.
Tôi cho rằng, điều đẹp nhất trong thông điệp lần này là tinh thần đồng hành nhưng có nguyên tắc. Việt Nam cảm ơn các nhà đầu tư đã chọn Việt Nam là quê hương thứ hai, đã sống, làm việc, kinh doanh tại Việt Nam. Nhưng sự chân thành ấy đi cùng một kỳ vọng rõ ràng: nhà đầu tư đến Việt Nam phải làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng người lao động, cộng đồng và đất nước; phải cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhìn lại, tôi thấy bài phát biểu này vượt ra ngoài phạm vi một chính sách FDI. Nó nói với chúng ta về bản lĩnh của một quốc gia đang trưởng thành. Một quốc gia trưởng thành không chỉ biết mời gọi mà còn biết sàng lọc, không chỉ biết nhận nguồn lực bên ngoài mà còn biết chuyển hóa nguồn lực ấy thành sức mạnh bên trong, không chỉ muốn tăng trưởng nhanh mà còn muốn phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tôi tin rằng, điều đất nước cần hôm nay không chỉ là thêm dự án mà là thêm năng lực, tri thức, thêm doanh nghiệp Việt Nam mạnh, việc làm chất lượng cao, thêm vị thế Việt Nam trong những khâu giá trị cao của thế giới.
Đó là con đường khó hơn, nhưng đúng hơn.
Và cuối cùng, đó cũng là cách để chúng ta biến hội nhập thành nội lực, biến nguồn lực quốc tế thành năng lực Việt Nam, biến những dự án tốt thành doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm tốt hơn và một tương lai phát triển tự chủ, bền vững hơn cho đất nước.
Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/khong-cho-von-ma-chon-gia-tri-cho-tuong-lai-2531232.html











