Không nâng năng suất, khó thoát bẫy thu nhập trung bình

Vì sao sau nhiều năm tăng trưởng cao, năng suất lao động Việt Nam vẫn còn cách xa các nước trong khu vực?

Câu trả lời không chỉ nằm ở logistics mà ở cấu trúc nền kinh tế và chất lượng nguồn lực.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh ngày càng gay gắt và các chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng trở thành nhiệm vụ sống còn đối với Việt Nam.

Gần đây, vấn đề chi phí logistics cao đã được chỉ ra như một điểm nghẽn lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh logistics, một nút thắt có tính nền tảng hơn, quyết định sức cạnh tranh dài hạn của quốc gia, chính là năng suất lao động. Nếu không tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn này, Việt Nam khó có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới nền kinh tế có giá trị gia tăng cao.

Năng suất lao động thấp

Báo cáo đánh giá tình hình và kết quả 5 năm thực hiện nghị quyết 31 của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế năm 2025 cho thấy: Năm 2023, năng suất lao động theo PPP (2021) của Việt Nam chỉ bằng 11,2% so với Singapore, 27% so với Hàn Quốc, 28,6% so với Nhật Bản, 36,2% so với Malaysia, 64,6% so với Thái Lan, 57,3% so với Trung Quốc, 84,8% so với Indonesia.

Những con số này phản ánh rõ khoảng cách về hiệu quả sử dụng nguồn lực và trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Điều đáng lưu ý là khoảng cách này không chỉ xuất phát từ quy mô nền kinh tế hay trình độ công nghệ, mà còn bắt nguồn từ cấu trúc kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến năng suất lao động thấp là cơ cấu kinh tế còn tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, giá trị gia tăng thấp. Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam dựa đáng kể vào gia công, lắp ráp, khai thác tài nguyên và các ngành thâm dụng lao động. Mô hình này giúp tạo việc làm nhanh và thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng lại hạn chế khả năng nâng cao năng suất.

Công tác đào tạo nghề cần đầu tư thiết bị, công nghệ và đội ngũ giảng viên có trình độ thực hành cao Ảnh: GIANG NAM

Công tác đào tạo nghề cần đầu tư thiết bị, công nghệ và đội ngũ giảng viên có trình độ thực hành cao Ảnh: GIANG NAM

Trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp như gia công sản xuất, trong khi các khâu nghiên cứu, thiết kế, marketing và phân phối - nơi tạo ra giá trị lớn nhất vẫn do doanh nghiệp (DN) nước ngoài nắm giữ. Nếu không chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ tri thức, năng suất lao động khó có thể cải thiện đáng kể.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nền kinh tế Đông Á thành công đều trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa sâu, phát triển DN nội địa có năng lực công nghệ và nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị. Đây là con đường Việt Nam cần kiên định theo đuổi.

Còn nhiều hạn chế

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định năng suất lao động. Tuy nhiên, hệ thống đào tạo hiện nay vẫn tồn tại những bất cập đáng chú ý. Trong nhiều năm, xã hội đặt trọng tâm quá lớn vào giáo dục đại học, trong khi giáo dục nghề nghiệp nhất là hệ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức.

Bên cạnh đó, kỹ năng quản trị và tư duy công nghiệp của đội ngũ lãnh đạo DN cũng cần được nâng cao. Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng người lao động mà còn gắn chặt với năng lực tổ chức sản xuất, tối ưu quy trình và quản trị hiệu quả.

Phần lớn DN Việt Nam là nhỏ và vừa, nguồn lực hạn chế, mức đầu tư cho công nghệ thấp. Việc đổi mới công nghệ, tự động hóa và ứng dụng quản trị hiện đại chưa diễn ra mạnh mẽ. Điều này dẫn đến hiệu suất sản xuất thấp, chi phí cao và khó nâng cao chất lượng sản phẩm.

Trong khi đó, tại các nền kinh tế phát triển, năng suất lao động tăng chủ yếu nhờ ứng dụng công nghệ, tự động hóa và quản trị thông minh. Những tiến bộ trong sản xuất thông minh, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất toàn cầu. Nếu DN Việt Nam không nhanh chóng thích ứng, khoảng cách năng suất sẽ tiếp tục nới rộng.

Đặc biệt, năng lực quản trị DN vẫn là điểm yếu. Nhiều DN chưa áp dụng các tiêu chuẩn quản trị hiện đại, chưa tối ưu chuỗi cung ứng và chưa xây dựng văn hóa DN dựa trên hiệu quả và đổi mới sáng tạo. Đây là rào cản lớn đối với việc nâng cao năng suất.

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế, thường được phản ánh qua hệ số ICOR, vẫn ở mức cao so với nhiều nước trong khu vực. Điều này cho thấy cần nhiều vốn hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Nguyên nhân không chỉ nằm ở công nghệ hay năng lực sản xuất mà còn ở cơ chế phân bổ nguồn lực.

Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Trong một số trường hợp, đầu tư còn dàn trải, chịu tác động bởi các yếu tố phi kinh tế, dẫn đến hiệu quả thấp. Khi nguồn lực không được phân bổ theo tín hiệu thị trường và hiệu quả kinh tế, năng suất tổng thể của nền kinh tế sẽ bị suy giảm.

Cải thiện hiệu quả sử dụng vốn đòi hỏi tăng cường kỷ luật tài chính, minh bạch hóa đầu tư công, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và tạo môi trường kinh doanh công bằng cho mọi thành phần kinh tế.

Tháo gỡ các điểm nghẽn

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng nâng cao năng suất lao động. Ứng dụng công nghệ số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí, tăng tính minh bạch và nâng cao khả năng kết nối thị trường. Nhưng quá trình chuyển đổi số tại nhiều DN Việt Nam vẫn diễn ra chậm, đặc biệt ở khu vực DN nhỏ và vừa.

Ở các nước công nghiệp phát triển, đào tạo nghề chất lượng cao đóng vai trò nền tảng cho năng suất lao động. Các trường đào tạo nghề hiện đại đòi hỏi đầu tư thiết bị, công nghệ và đội ngũ giảng viên có trình độ thực hành cao; chi phí đào tạo trên mỗi học viên thậm chí có thể cao hơn đại học. Nếu không nâng cấp hệ thống đào tạo nghề, nền kinh tế sẽ thiếu hụt lực lượng kỹ thuật viên lành nghề - mắt xích quan trọng trong sản xuất hiện đại.

Những rào cản phổ biến gồm thiếu nguồn lực tài chính, thiếu nhân lực công nghệ, nhận thức hạn chế và lo ngại rủi ro khi thay đổi mô hình hoạt động. Nếu không thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, DN sẽ khó nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh.

Chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, kết nối đa phương thức còn hạn chế, chi phí vận tải và lưu kho cao làm giảm hiệu quả sản xuất và xuất khẩu.

Việc phát triển hệ thống logistics hiện đại, trung tâm phân phối thông minh và kết nối hạ tầng số với hạ tầng vật lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, qua đó cải thiện năng suất tổng thể của nền kinh tế.

Để nâng cao năng suất lao động và tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển, cần một chiến lược đồng bộ với các giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ tri thức.

Thứ hai, cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng và thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của lao động kỹ thuật.

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới công nghệ, tự động hóa và nâng cao năng lực quản trị DN; hỗ trợ DN nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ mới.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh minh bạch và giảm can thiệp phi kinh tế.

Thứ năm, đẩy nhanh chuyển đổi số quốc gia và hỗ trợ DN ứng dụng công nghệ số trong quản trị và sản xuất. Thứ sáu, phát triển hệ thống logistics và hạ tầng hiện đại nhằm giảm chi phí, tăng khả năng kết nối và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Phát triển bền vững

Nâng cao năng suất lao động không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam phát triển bền vững và nâng cao vị thế quốc gia. Tháo gỡ các điểm nghẽn như cơ cấu kinh tế giá trị thấp, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, hiệu quả sử dụng vốn và chuyển đổi số chậm là nhiệm vụ cấp bách.

Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam có thể chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí thấp sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Đây chính là con đường để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công trong kỷ nguyên kinh tế số và toàn cầu hóa sâu rộng.

Tiến sĩ Tô Văn Trường

Nguồn NLĐ: https://nld.com.vn/khong-nang-nang-suat-kho-thoat-bay-thu-nhap-trung-binh-196260220180231374.htm