Không phải công ty luật cũng ký hợp đồng dịch vụ pháp lý 1 tỉ đồng và phán quyết của tòa
HĐXX sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng giữa Công ty TNHH L và ông NHT vô hiệu, buộc Công ty này phải trả lại cho ông T số tiền đã nhận là 50 triệu đồng.
TAND TP Đồng Nai vừa ban hành bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa Công ty TNHH L với bị đơn là ông NHT.
Theo nội dung bản án, nguyên đơn khởi kiện là Công ty L trình bày, ngày 22-2-2022, ông Nguyễn Duy B (đại diện công ty) có ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với ông NHT (ngụ TP Đồng Nai). Công ty nhận đại diện theo ủy quyền cho ông T trong vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với thỏa thuận phí và thù lao 1 tỉ đồng. Lúc này, ông T đã thanh toán số tiền 50 triệu đồng.
Nay vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đã giải quyết xong và được thi hành án, ông T đã nhận lại tài sản nhưng lại không thanh toán số tiền thù lao còn lại cho Công ty L.
Tuy nhiên, ông T cho biết, vụ án chưa kết thúc vì đã có quyết định công nhận sự thỏa thuận thành giữa bên vay tiền phải trả cho ông số tiền 3 tỉ đồng, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được tiền. Do đó, theo thỏa thuận trong hợp đồng thì công việc chưa xong nên T không đồng ý thanh toán 950 triệu đồng còn lại.
Ngoài ra, ông T có đơn phản tố đề nghị tòa tuyên vô hiệu hợp đồng dịch vụ pháp lý, buộc Công ty L phải trả lại 50 triệu đồng và bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín với số tiền hơn 23 triệu đồng cho ông, do Công ty L liên tục đe dọa, xúc phạm ông.
Ngày 16-12-2025, xử sơ thẩm, TAND Khu vực 2 - Đồng Nai tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty L, buộc ông T phải thanh toán cho Công ty L số tiền 950 triệu đồng; đồng thời không chấp nhận tất cả các yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm vào ngày 17-4-2026, VKSND TP Đồng Nai cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết nội dung vụ án không phù hợp, đề nghị HĐXX sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty L và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
HĐXX phúc thẩm nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án này phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết giữa các bên, bao gồm các công việc, trong đó có tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng tại các Tòa án các cấp…
HĐXX cho biết giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty L, gồm: Hoạt động tư vấn quản lý (trừ tư vấn pháp luật). Công ty L được Sở Kế hoạch và Đầu tư (trước đây) cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không phải là tổ chức hành nghề Luật sư, không phải loại hình Công ty Luật TNHH hoạt động theo Luật Luật sư và cơ quan cấp giấy đăng ký hoạt động là Sở Tư pháp.
Ngoài ra, HĐXX cho biết theo các Điều 4, 30 và 32 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), dịch vụ pháp lý thuộc phạm vi hoạt động nghề nghiệp của Luật sư và chỉ được thực hiện thông qua các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập hợp pháp như văn phòng luật sư hoặc công ty luật.
Mặt khác, theo Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Đối với hoạt động dịch vụ pháp lý điều kiện bắt buộc phải được tổ chức và hoạt động theo khuôn khổ của Luật Luật sư.
“Trong trường hợp này, việc ký hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý khi bên cung cấp dịch vụ không có tư cách pháp lý để thực hiện hoạt động này là vi phạm điều cấm của pháp luật, giao dịch không đáp ứng được điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nên bị vô hiệu”, bản án phúc thẩm của TAND TP Đồng Nai nêu rõ.
Từ những nội dung trên, HĐXX phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án đã không xem xét đầy đủ yếu tố pháp lý liên quan đến tư cách chủ thể của bên cung cấp dịch vụ cũng như không đánh giá tính hợp pháp của hợp đồng dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật chuyên ngành, việc công nhận hiệu lực của hợp đồng, buộc thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng là không có căn cứ.
Do đó, HĐXX tuyên chấp nhận kháng cáo của ông T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND Khu vực 2 - Đồng Nai; tuyên vô hiệu đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông T và Công ty L, buộc Công ty L phải trả cho ông T số tiền đã nhận là 50 triệu đồng.











