Không thể quản lý đô thị hiện đại bằng dữ liệu rời rạc và bản vẽ giấy

Không thể quản lý đô thị hiện đại bằng dữ liệu rời rạc và bản vẽ giấy mà phải bằng nền tảng dữ liệu số. Đó là thông tin được nhấn mạnh tại Hội thảo 'Phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trong kỷ nguyên chuyển đổi số' vừa tổ chức.

GIS – BIM: Nền móng dữ liệu cho đô thị thông minh

Nhấn mạnh việc lựa chọn đúng nền tảng dữ liệu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng quy hoạch, đầu tư và quản lý trong tiến trình chuyển đổi số đô thị, TS. Nguyễn Xuân Linh – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng AIST thẳng thắn đề cập những thách thức trong phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện nay.

"Không thể quản lý đô thị hiện đại bằng dữ liệu rời rạc và bản vẽ giấy. GIS cung cấp nền tảng dữ liệu không gian tổng thể cho quy hoạch và quản lý đô thị, còn BIM cho phép quản lý chi tiết từng công trình, từng tuyến hạ tầng trong suốt vòng đời từ thiết kế, thi công đến vận hành. Khi kết hợp, GIS và BIM tạo thành nền móng dữ liệu số cho đô thị thông minh, giúp việc ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì cảm tính", ông Linh nêu.

TS. Nguyễn Xuân Linh – Phó Viện trưởng Viện AIST làm rõ từ vai trò của BIM (Mô hình hóa thông tin công trình) và GIS (Hệ thống thông tin địa lý)

TS. Nguyễn Xuân Linh – Phó Viện trưởng Viện AIST làm rõ từ vai trò của BIM (Mô hình hóa thông tin công trình) và GIS (Hệ thống thông tin địa lý)

Cũng theo ông Linh, quy hoạch không còn chỉ là bản vẽ in đóng dấu, mà phải được chuẩn hóa và tổ chức dưới dạng cơ sở dữ liệu địa lý, phục vụ thẩm định, quản lý và khai thác lâu dài. Điểm mấu chốt là GIS đã chính thức trở thành thành phần bắt buộc trong hồ sơ quy hoạch theo Thông tư 16/2025/TT-BXD.

"Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đang chuyển từ tư duy "bản vẽ tĩnh" sang "dữ liệu sống. Hệ thống GIS hiện nay bao phủ hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đô thị như sử dụng đất, giao thông, cấp – thoát nước, cấp điện, hạ tầng ngầm, môi trường, năng lượng… và có thể cập nhật, phân tích, khai thác cho nhiều mục tiêu khác nhau.

Trong đó có điều chỉnh chi phí, với hệ số K = 1,1 theo Thông tư 17/2025/TT-BXD. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây là khoản đầu tư cho hiệu quả dài hạn, không phải chi phí phát sinh đơn thuần", ông Linh nói và thông tin thêm:

GIS giúp giảm trùng lặp khảo sát, hạn chế sai sót dữ liệu, tăng tính minh bạch trong quản lý quy hoạch và đặc biệt là giảm rất nhiều chi phí điều chỉnh quy hoạch về sau. Thực tế cho thấy, khi dữ liệu quy hoạch được công bố trên nền tảng GIS, hiệu quả quản lý đất đai, đầu tư xây dựng và khả năng tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp đều được cải thiện rõ rệt.

Đặc biệt có một vài hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng BIM chỉ là mô hình 3D. Thực chất, BIM là một quy trình quản lý thông tin xuyên suốt vòng đời công trình, tích hợp cả tiến độ, chi phí, vận hành và yếu tố bền vững, chứ không chỉ là hình ảnh trực quan.

Nghị định 175/2024/NĐ-CP đã quy định áp dụng BIM bắt buộc đối với các dự án từ nhóm B trở lên và các công trình mới từ cấp II trở lên, cùng với hệ thống thông tư, hướng dẫn kỹ thuật và lộ trình quốc gia. "Hiện nay, vấn đề không còn là 'có làm hay không', mà là làm thế nào để triển khai hiệu quả", Phó viện trưởng Viện AIST nhấn mạnh.

Toàn cảnh hội thảo.

Toàn cảnh hội thảo.

Nút thắt lớn nhất chính là con người và tư duy

Thảo luận tại hội thảo, nhiều ý kiến đồng thuận: Thách thức lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà ở con người và tư duy triển khai.

TS Ngô Thị Kim Dung Phó Hiệu trưởng trường Đại Học Kiến trúc Hà Nội nhận định: Chúng ta còn thiếu nguồn nhân lực am hiểu đồng thời quy hoạch, GIS và BIM; tiêu chuẩn dữ liệu chưa đồng bộ; và thói quen làm việc theo phương thức truyền thống vẫn khá phổ biến.

Do vậy, Phó hiệu trưởng trường Đại học Kiến trúc Hà Nội khuyến nghị: Trong thời gian tới, cần ưu tiên đào tạo nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu và triển khai các dự án thí điểm có tính dẫn dắt. Khi đã có những mô hình thành công, GIS và BIM sẽ không còn là khái niệm kỹ thuật, mà trở thành công cụ quản lý quen thuộc của các địa phương và chủ đầu tư. "Chỉ khi GIS và BIM được tích hợp trong một hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, chúng ta mới có thể hướng tới đô thị thông minh và phát triển bền vững đúng nghĩa", bà Dung nói.

Chung quan điểm này, các chuyên gia đề xuất cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu và triển khai các dự án thí điểm mang tính dẫn dắt. Khi có những mô hình thành công, GIS và BIM sẽ không còn là khái niệm kỹ thuật xa lạ, mà trở thành công cụ quản lý thường nhật của chính quyền địa phương và chủ đầu tư.

Hội thảo khoa học với chủ đề "Phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trong kỷ nguyên chuyển đổi số – DUTIEDT 2026" do Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng AIST và Công ty Cổ phần Tập đoàn S-Group Việt Nam phối hợp cùng Khoa Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường Đô thị – Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức, nhằm tạo diễn đàn khoa học để các nhà nghiên cứu, giảng viên, chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp trao đổi các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trong bối cảnh chuyển đổi số. Nội dung hội thảo tập trung vào các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng, quản lý và vận hành hạ tầng đô thị, hướng tới phát triển đô thị thông minh và bền vững...

Mộc Miên

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/khong-the-quan-ly-do-thi-hien-dai-bang-du-lieu-roi-rac-va-ban-ve-giay-192260128190519342.htm