Khu công nghệ cao chuyển mình từ 'công xưởng' sang nghiên cứu công nghệ lõi

Các khu công nghệ cao đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển, từ chỗ tập trung sản xuất, lắp ráp sang trở thành trung tâm nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57.

Việc hoàn thiện thể chế, tăng đầu tư cho R&D và thúc đẩy liên kết hệ sinh thái được kỳ vọng sẽ tạo cú hích giúp các khu công nghệ cao bứt phá trong giai đoạn tới.

Hạt nhân thu hút đầu tư và đổi mới sáng tạo

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, các khu công nghệ cao (KCNC) tiếp tục giữ vai trò then chốt khi vừa là điểm đến của các dòng vốn công nghệ cao, vừa là nơi hội tụ nguồn lực nghiên cứu, đào tạo và ươm tạo doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, các KCNC đã góp phần hình thành mô hình liên kết “bốn nhà” gồm: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – thị trường. Không chỉ dừng ở sản xuất, nhiều khu đã bắt đầu tích hợp các chức năng nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ, tạo nền tảng cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam. Ảnh: Huy Hùng/TTXVN

Tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam. Ảnh: Huy Hùng/TTXVN

Tiêu biểu như Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh hiện có quy mô hơn 534 ha, thu hút 121 dự án với tổng vốn hơn 12 tỷ USD. Năm 2025, khu này có hơn 52.000 lao động, đóng góp tới 47% kim ngạch xuất khẩu của Thành phố trong một số thời điểm, cho thấy sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế đô thị.

Tương tự, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đã thu hút hơn 100 dự án với tổng vốn khoảng 5 tỷ USD, bước đầu hình thành hệ sinh thái công nghệ với các khu chức năng chuyên biệt. Các khu khác như Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Nội, Hưng Yên hay Hà Nam cũng đang được định hướng phát triển theo các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới.

Tính chung cả nước hiện có 6 khu công nghệ cao, trong đó 3 khu đã phát huy rõ vai trò động lực thu hút đầu tư với tổng vốn FDI gần 17 tỷ USD từ các tập đoàn lớn trong và ngoài nước.

Chuyển hướng từ “ưu đãi chung” sang “đầu tư trọng điểm”

Một điểm đáng chú ý là khung thể chế cho phát triển KCNC đang được hoàn thiện theo hướng thực chất hơn. Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được Quốc hội thông qua cuối năm 2025 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển.

Thay vì cách tiếp cận “khuyến khích chung”, luật mới nhấn mạnh “đầu tư trọng điểm” vào các công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược. Đây là cơ sở để tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực đột phá, từng bước làm chủ công nghệ lõi, gắn với yêu cầu tự chủ và an ninh quốc gia.

Khu Công nghệ cao tại TP Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu: Quang Nhựt/TTXVN

Khu Công nghệ cao tại TP Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu: Quang Nhựt/TTXVN

Luật cũng bổ sung hàng loạt cơ chế mới như hợp tác công – tư (PPP), cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), mở rộng ưu đãi cho hoạt động R&D và phân loại doanh nghiệp theo mức độ làm chủ công nghệ. Những doanh nghiệp đầu tư thực chất vào nghiên cứu, đổi mới sáng tạo sẽ được hưởng ưu đãi cao hơn, trong khi các dự án chỉ lắp ráp sẽ dần bị hạn chế.

Đáng chú ý, chính sách ưu đãi không chỉ dừng ở thuế hay đất đai mà còn mở rộng sang hạ tầng nghiên cứu như phòng thí nghiệm dùng chung, hỗ trợ giải mã công nghệ, đào tạo nhân lực. Đồng thời, sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được ưu tiên trong đấu thầu, mua sắm công, tạo thị trường đầu ra ổn định.

Việc tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong thành lập và quản lý KCNC cũng được kỳ vọng giúp rút ngắn thời gian triển khai, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các Ban quản lý.

Điểm nghẽn về hạ tầng và liên kết

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song thực tế cho thấy các KCNC vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Một trong những hạn chế lớn là mô hình phát triển còn thiên về sản xuất, lắp ráp, trong khi vai trò trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo chưa rõ nét.

Hạ tầng phục vụ nghiên cứu còn thiếu và chưa đồng bộ. Tại Hòa Lạc, dù đã hình thành khoảng 80 phòng thí nghiệm, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ cao. Nhiều khu khác cũng gặp khó khăn tương tự, đặc biệt là thiếu các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn, phòng thí nghiệm hiện đại và hệ thống dịch vụ hỗ trợ.

Bên cạnh đó, liên kết giữa khu công nghệ cao với các trường đại học, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư và hệ sinh thái khởi nghiệp còn lỏng lẻo. Điều này khiến việc chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa hiệu quả, chưa tạo được chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Tiến độ giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng ở một số khu còn chậm, làm giảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Đồng thời, cơ chế huy động vốn, đặc biệt là vốn xã hội hóa, vẫn còn nhiều vướng mắc.

Một vấn đề đáng lưu ý khác là khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao chưa tương xứng với tiềm năng. Thiếu môi trường sống, làm việc thuận lợi và các chính sách đãi ngộ cạnh tranh khiến nhiều KCNC khó giữ chân chuyên gia, nhà khoa học.

Để các khu công nghệ cao thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, cần một loạt giải pháp đồng bộ trong giai đoạn tới. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trước hết, việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ cao 2025 là yêu cầu cấp thiết. Dự kiến Nghị định hướng dẫn sẽ được ban hành trong quý II/2026, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho các cơ chế mới như PPP, sandbox hay quỹ đầu tư mạo hiểm.

Song song đó, cần xây dựng khung chính sách quốc gia phát triển KCNC giai đoạn 2026–2035 với định hướng rõ ràng về công nghệ ưu tiên, phân bố không gian và cơ chế quản lý. Việc phân cấp mạnh cho Ban quản lý theo cơ chế “một cửa, một đầu mối” sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều hành và thu hút đầu tư.

Một trong những giải pháp then chốt là tăng cường đầu tư cho R&D. Nhà nước cần đóng vai trò “vốn mồi” thông qua các quỹ hỗ trợ nghiên cứu, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đồng tài trợ, đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn.

Đặc biệt, cần tập trung phát triển hai khu công nghệ cao trọng điểm là Hòa Lạc và TP. Hồ Chí Minh thành trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo tầm khu vực. Từ đó, hình thành mạng lưới phòng thí nghiệm quốc gia, trung tâm ươm tạo và chuyển giao công nghệ, lan tỏa sang các địa phương khác.

Bên cạnh đó, việc phát triển các đô thị công nghệ cao vệ tinh, gắn kết không gian sống – làm việc – nghiên cứu sẽ góp phần thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Các chính sách về nhà ở, giáo dục, y tế và môi trường sống cần được tích hợp trong quy hoạch KCNC.

Thúc đẩy cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp, khuyến khích hình thành doanh nghiệp spin-off từ trường đại học, phát triển sàn giao dịch công nghệ và cụm liên kết ngành cũng là những giải pháp quan trọng để hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc nâng tầm các khu công nghệ cao không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là yếu tố then chốt bảo đảm tự chủ công nghệ quốc gia. Khi thể chế được “cởi trói”, nguồn lực được tập trung và liên kết được tăng cường, các khu công nghệ cao hoàn toàn có thể trở thành “bệ phóng” cho Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên kinh tế tri thức theo Nghị quyết 57.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/thuc-hien-nghi-quyet-57/khu-cong-nghe-cao-chuyen-minh-tu-cong-xuong-sang-nghien-cuu-cong-nghe-loi-20260412105252800.htm