Khu công nghiệp sinh thái với định hướng thu hút FDI trong Kỷ nguyên mới
Khu công nghiệp sinh thái là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới.

Khu công nghiệp sinh thái yêu cầu có hạ tầng và dịch vụ phục vụ doanh nghiệp cộng sinh công nghiệp. Ảnh: Hoàng Anh.
Tại KCN Amata Biên Hòa, mô hình sử dụng sinh khối tạo hơi nước bão hòa giữa Pepsico Việt Nam với Công ty Năng lượng xanh là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của hình thức cộng sinh công nghiệp.
Cụ thể, Pepsico cung cấp đất trong khuôn viên nhà máy cho Năng lượng xanh, một doanh nghiệp chuyên sản xuất hơi nước bão hòa từ lò hơi sử dụng nhiên liệu sinh khối. Tại đây, những loại sinh khối như mùn cưa, mạt gỗ, vỏ dừa được Năng lượng xanh sử dụng đốt nóng lò hơi cung ứng hơi nước bão hòa cho Pepsico.
Pepsico sử dụng hơi nước bão hòa trong các công đoạn như hòa tan đường, cô đặc syrup, thanh trùng nước ngọt và vệ sinh thiết bị. So với phương pháp đốt truyền thống, giải pháp năng lượng sinh khối của Năng lượng xanh giúp Pepsico giảm hơn 16.000 tấn phát thải carbon mỗi năm, lại sử lý được 60.000 tấn chất thải sinh khối.
Trong khi đó, tại KCN Hiệp Phước, TP.HCM, mô hình trao đổi hơi nước bão hòa cũng được tiến hành giữa Calofic và Thực phẩm quốc tế Nam Dương, đều là hai thành viên của Tập đoàn Wilmar International đến từ Singapore.
Mô hình cộng sinh công nghiệp này giúp tiết kiệm 468MWh điện, 138GJ nhiên liệu, giảm 311 tấn bùn thải, 337 tấn khí thải carbon tương đương và tiết kiệm hơn 12 tỷ đồng chi phí vận hành mỗi năm.
TS. Nguyễn Trâm Anh, Quản lý dự án quốc gia Chương trình khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), dưới sự đồng hành của GEIPP, đã có hơn 1.000 giải pháp tương tự như vậy được triển khai tại 10 khu công nghiệp trên khắp cả nước, với sự tham gia của 159 doanh nghiệp.
Qua đó, hơn 32 triệu USD được đầu tư cho cơ hội khu công nghiệp sinh thái tại doanh nghiệp, giúp tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu và năng lượng lên đến hơn 7,6 triệu USD mỗi năm.
Giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm chi phí là hai lợi ích rõ nét của mô hình khu công nghiệp sinh thái đối với cộng đồng doanh nghiệp. Đây cũng là lợi thế cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trước bối cảnh các doanh nghiệp đa quốc gia ngày càng chịu nhiều áp lực bền vững và minh bạch hóa chuỗi cung ứng.
Từ khu công nghiệp sinh thái đến định hướng thu hút FDI
Tháng 6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó định vị quan điểm và tư duy về thu hút và sử dụng vốn FDI cũng như các hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp theo hướng chú trọng chất lượng, hàm lượng công nghệ cao, cam kết lâu dài cũng như tính bền vững, thân thiện với môi trường.

Mục tiêu cốt yếu của khu công nghiệp sinh thái là nâng cao hiệu suất. Ảnh: Hoàng Anh.
Một trong những mục tiêu cụ thể đặt ra trong Nghị quyết 10 là tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm cả chuyển đổi từ khu công nghiệp cũ và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.
Định hướng này phù hợp với xu thế toàn cầu khi những rào cản thương mại liên quan đến tính bền vững đang ngày càng trở nên phổ biến. Tiêu biểu như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) sẽ tính toán và đánh phần thuế, phí carbon chênh lệch giữa nước xuất khẩu với EU trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Nói cách khác, để “vượt rào” CBAM, doanh nghiệp bắt buộc phải cắt giảm khí thải trong chuỗi cung ứng của mình. Thiết lập cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp sinh thái là giải pháp quan trọng cho vấn đề này.
Bởi lẽ, khu công nghiệp sinh thái không chỉ là khu công nghiệp đơn thuần được dựng lên và các doanh nghiệp trong đó tự liên kết với nhau để giảm phát thải, thực hành kinh tế tuần hoàn.
Nghị định 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ các tiêu chí về khu công nghiệp sinh thái, trong đó nhấn mạnh tiêu chí về đảm bảo dịch vụ cơ bản, từ hạ tầng thiết yếu cho đến những hạ tầng, dịch vụ phục vụ cho việc cộng sinh công nghiệp giữa doanh nghiệp.
Tức là, ở trong một khu công nghiệp sinh thái, doanh nghiệp không phải tự giảm phát thải một mình, thay vào đó là có sự hỗ trợ tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp xung quanh và cả cơ sở hạ tầng ngay trong khu công nghiệp. Như vậy, nỗ lực giảm phát thải, xanh hóa sản xuất được diễn ra một cách hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, hiệu quả của khu công nghiệp sinh thái không chỉ nằm ở giảm phát thải. Theo bà Trâm Anh, mục đích cốt yếu của mô hình khu công nghiệp sinh thái là nâng cao hiệu suất sản xuất và sử dụng tài nguyên của doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
Yếu tố này cũng đi sát với yêu cầu của Nghị quyết 10 là tập trung vào những ưu đãi mang tính thực chất để thu hút đầu tư, qua đó lọc ra những dự án đầu tư hiệu quả cao và có cam kết lâu dài.
Tham gia vào một mô hình cộng sinh công nghiệp, doanh nghiệp được tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, kinh doanh, đáng quý hơn nhiều so với việc nhận ưu đãi thuế, phí vốn đã không còn hiệu quả bởi cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu. Ngoài ra, điều này cũng thể hiện cam kết đồng hành cùng phát triển của Việt Nam với các nhà đầu tư.
Vì vậy, mục tiêu chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp sinh thái trên cả nước đến năm 2030 theo Nghị quyết số 10 là một thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn để thay đổi diện mạo công nghiệp quốc gia cũng như công tác thu hút FDI.
Hướng tới mục tiêu này, bà Trâm Anh cho biết, GEIPP sẽ tập trung vào việc xây dựng khung báo cáo ESG riêng cho khu công nghiệp và doanh nghiệp sinh thái, hỗ trợ tài chính xanh và vận hành nền tảng quản trị thông minh (EIP hub).











