Kiểm kê khí nhà kính: Việt Nam phải tuân thủ đúng khung tiêu chuẩn kỹ thuật Hướng dẫn theo IPCC năm 2006
Doanh nghiệp cần tra cứu trực tiếp tên cơ sở tại các Phụ lục mới ban hành để xác định chính xác nghĩa vụ pháp lý của mình; Đẩy nhanh chuyển đổi số trong công tác kiểm kê; đồng thời xây dựng lộ trình áp dụng các giải pháp giảm phát thải trong ngắn hạn, trung và dài hạn…trong thực hiện nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính
Bổ sung thêm hàng trăm doanh nghiệp mới vào danh mục bắt buộc kiểm kê khí nhà kính
Tháng 8 vừa qua Chính phủ đã ban hành Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg (có hiệu lực từ ngày 25/9/2026) thay thế cho Quyết định 13/2024/QĐ-TTg. Văn bản mới này đã chính thức mở rộng danh mục lên 2.441 cơ sở phải thực hiện nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính (tăng thêm 275 cơ sở so với danh mục năm 2024). Có 1.916 cơ sở thuộc lĩnh vực Công Thương thuộc các lĩnh Dệt may, Da giày, Nhựa, Giấy, Luyện kim, Điện...nằm trong danh mục này. Theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, ngày 31/3/2027 sẽ là thời điểm các doanh nghiệp, cơ sở phát thải trong danh mục sẽ phải thực hiện nghĩa vụ nộp báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở.
Theo đó Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đo đạc, thu thập dữ liệu hoạt động, tính toán và thực hiện kiểm kê KNK cấp cơ sở theo đúng hướng dẫn kỹ thuật của Bộ quản lý chuyên ngành (Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Đồng thời phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và minh bạch của số liệu phát thải (đặc biệt là phát thải trực tiếp và phát thải gián tiếp từ năng lượng tiêu thụ.
Các doanh nghiệp, cơ sở phát thải phải nộp báo cáo kiểm kê KNK tới cơ quan chuyên môn theo quy định tại Nghị định 06/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP và Nghị định 83/2026/NĐ-CP) với sự đôn đốc của UBND cấp tỉnh/thành phố.
Tuy nhiên thực tế để có dữ liệu kiểm kê chính xác thì khâu đo lường, thu thập phải chuẩn hóa nhưng đây hiện cũng là điểm nghẽn, thách thức lớn đối với các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ này do thiếu các công cụ, hướng dẫn kỹ thuật đo lường, bên cạnh đó là thách thức đến tự năng lực tự thực hiện kiểm kê báo cáo của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống đo lường để có dữ liệu chuẩn nhưng việc này cũng hỏi nguồn lực lớn về tài chính, nhân lực.

Khuyến nghị đưa ra cho các Doanh nghiệp là cần tra cứu trực tiếp tên cơ sở tại các Phụ lục mới ban hành (Phụ lục II cho Công Thương, Phụ lục III cho Xây dựng & Giao thông) để xác định chính xác nghĩa vụ pháp lý của mình.
Khuyến nghị đưa ra cho các Doanh nghiệp là cần tra cứu trực tiếp tên cơ sở tại các Phụ lục mới ban hành (Phụ lục II cho Công Thương, Phụ lục III cho Xây dựng & Giao thông) để xác định chính xác nghĩa vụ pháp lý của mình. Đồng thời đẩy nhanh chuyển đổi số trong công tác kiểm kê (ví dụ như ứng dụng các nền tảng/phần mềm quản trị các bon tự động để tích hợp dữ liệu từ hóa đơn, đồng hồ đo điện năng, phiếu nhập kho, hạn chế tối đa sai sót thủ công... ).
Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng cần xây dựng lộ trình áp dụng các giải pháp giảm pháp thải như trong ngắn hạn là tối ưu hóa hiệu suất năng lượng, chống rò rỉ khí/nhiệt, đào tạo nhận thức vận hành tiết kiệm. Với Trung - Dài hạn là thay đổi cơ cấu nhiên liệu (Biomass, CNG), chuyển đổi công nghệ sản xuất tuần hoàn, tái chế phế liệu (đặc biệt đối với ngành Giấy và Nhựa).
Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính theo IPCC năm 2006 là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với Việt Nam
Thực tế tại Việt Nam công tác kiểm kê khí nhà kính quốc gia đã được thực hiện cho từ các năm 1994, 2000, 2010; từ năm 2014 trở đi được duy trì định kỳ 2 năm một lần. Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng kiểm kê cơ bản bao trùm các lĩnh vực chính gồm: năng lượng; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU); chất thải; các quá trình công nghiệp (IPCC). Từ năm 2020Việt Nam đã chính thức thực hiện trách nhiệm giảm phát thải quốc gia. Để có cơ sở dữ liệu chính xác theo dõi tiến trình giảm phát thải cấp lĩnh vực, quốc gia, Việt Nam bắt buộc phải tổ chức kiểm kê khí nhà kính chi tiết từ cấp cơ sở và vận hành Khung minh bạch tăng cường (ETF), đảm bảo hoàn thành Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR) gửi lên Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Các cơ sở thực hiện kiểm kê lần đầu năm 2022, sau đó là 2024 mới đây.
Việc thực hiện khung minh bạch của Thỏa thuận Paris tại Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết nhằm đáp ứng Luật Bảo vệ môi trường 2020, tạo nền tảng cho việc vận hành thị trường các-bon trong nước, giải quyết các rào cản thương mại như Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM), đẩy mạnh hội nhập kinh tế.
Thực tế chia sẻ tại khóa tập huấn “Đào tạo, tập huấn về chính sách, công cụ giảm phát thải khí nhà kính” tại Hà Nội (sự kiện do Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc phối hơp tổ chức), ông Jaypalsinh Chauhan, Chuyên gia quốc tế về kiểm kê khí nhà kính và MRV, Điều phối viên Mạng lưới Minh bạch Khí hậu châu Á (Dự án CBIT), nhấn mạnh, theo các phương thức, thủ tục và hướng dẫn (MPGs) thực thi Thỏa thuận Paris (về biến đổi khí hậu), việc áp dụng Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính theo IPCC năm 2006 không còn dừng lại ở mức khuyến khích hay tham khảo tùy ý, mà đã chính thức trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với Việt Nam.
Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình thu thập số liệu, lựa chọn phương pháp luận và lập báo cáo kiểm kê quốc gia đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng khung tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất của bộ hướng dẫn này. Vị Chuyên gia này nhấn mạnh, cơ sở sẽ phải cung cấp chuỗi dữ liệu hàng năm, dữ liệu truy xuất được nguồn gốc và tài liệu phải được lưu trữ sẵn sàng để phục vụ thẩm tra sau đó.
Khóa tập huấn “Đào tạo, tập huấn về chính sách, công cụ giảm phát thải khí nhà kính” tập trung chia sẻ về Khung minh bạch tăng cường (ETF) của Thỏa thuận Paris, Hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV) quốc gia và phương pháp kiểm kê khí nhà kính. Các học viên được giới thiệu về kỹ thuật kiểm kê khí nhà kính cho các lĩnh vực cụ thể bao gồm: Năng lượng, Quá trình công nghiệp (IPPU), Nông nghiệp, Lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU), và lĩnh vực Chất thải; các công cụ theo dõi tiến độ giảm phát thải.
Chia sẻ thông tin về kết quả rà soát 42 nguồn phát thải (nhóm chiếm 95,1% tổng phát thải của Việt Nam), bà Nguyễn Hồng Loan - chuyên gia ETF về theo dõi tiến độ giảm phát thải khí nhà kính cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp hiện vẫn áp dụng phương pháp tính cơ bản, số liệu hoạt động chủ yếu gom từ trên xuống và còn thiếu các hệ số phát thải đặc thù lĩnh vực. Trong khi đó, hướng dẫn của Liên hợp quốc đưa ra cách tiếp cận từ dưới lên. Để đáp ứng các yêu cầu quốc tế, trong giai đoạn 2025-2028, bà Loan khuyến nghị Việt Nam cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật kiểm kê quốc gia, vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung và đồng thời số hóa quy trình báo cáo.
Thông tin tại hôi thảo tập huấn đại diện Cục biến đổi khí hậu cho biết hiện đơn vị này đang xây dựng hệ thống báo cáo trực tuyến cơ sở nhằm số hóa dữ liệu đồng thời cung cấp công cụ tính toán tự động cho doanh nghiệp. Thực tế yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính quốc gia hiện nay ngày càng cấp thiết xuất phát từ các áp lực như: khối lượng bảng biểu báo cáo ngày càng đồ sộ, phức tạp; chu kỳ hoàn thành và nộp báo cáo định kỳ hai năm một lần gấp rút; cùng cơ chế rà soát, đánh giá độc lập của các đoàn chuyên gia quốc tế đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc. Để báo cáo đạt chuẩn, chuyên gia cũng khuyến nghị công tác kiểm soát chất lượng không thể chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra số liệu cuối cùng mà phải được tính toán, lồng ghép ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Mục tiêu nhằm tránh tính trùng hoặc bỏ sót số liệu phát thải khí nhà kính.
