Kiểm toán chất lượng nguồn thu, nuôi dưỡng động lực tăng trưởng

Giai đoạn 2026-2030, ngành Thuế chịu áp lực lớn khi tổng thu ngân sách nhà nước phải đạt tối thiểu 20% GDP; trong đó, thu từ thuế và phí tối thiểu 17% GDP, tương ứng khoảng 14,6 triệu tỷ đồng do cơ quan thuế quản lý. Bài toán tăng thu không thể dựa vào tăng thuế suất cơ học, mà đòi hỏi mở rộng cơ sở thu, giảm thất thu, kiểm soát hiệu quả ưu đãi và giảm chi phí tuân thủ. Điều này đặt ra yêu cầu Kiểm toán nhà nước (KTNN) chuyển từ kiểm toán “số thu” sang kiểm toán “chất lượng nguồn thu”, từ kiểm tra kết quả sang đánh giá tính bền vững, hiệu quả và năng lực quản trị của hệ thống thuế.

Công chức Thuế tỉnh Lâm Đồng hướng dẫn người dân kê khai thuế. Ảnh: Thuế tỉnh Lâm Đồng

Công chức Thuế tỉnh Lâm Đồng hướng dẫn người dân kê khai thuế. Ảnh: Thuế tỉnh Lâm Đồng

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thu từ thuế phí

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thuế cần được nhìn nhận như một cấu phần của chiến lược tài khóa và phát triển. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng tỷ lệ thuế/GDP nên vượt mốc khoảng 15% để tạo điều kiện cho tăng trưởng. Việt Nam đã vượt mốc này (19% năm 2022 theo phương pháp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD) nên trọng tâm là chất lượng và cơ cấu nguồn thu. Tuy nhiên, cần lưu ý OECD chỉ tính “thuế” là các khoản thanh toán bắt buộc, không đối ứng nên chỉ tiêu 17% “thuế và phí” của Việt Nam không so sánh trực tiếp được.

Đưa tuân thủ vào chính hệ thống mà người nộp thuế đang sử dụng là một trong những định hướng của mô hình “Quản lý thuế 3.0” do OECD đề xuất. Theo đó, các quy trình thuế được lồng ghép trực tiếp vào những hệ thống mà người nộp thuế sử dụng trong hoạt động hằng ngày, qua đó giúp việc thực hiện nghĩa vụ thuế trở nên thuận tiện và tự nhiên hơn. IMF ước tính hóa đơn điện tử và thiết bị tài chính điện tử có thể mang lại trung bình lần lượt 0,5% và 0,7% GDP. Việt Nam đã có bước đi tương ứng và dịch chuyển mạnh mẽ với các hệ thống điện tử phục vụ hoạt động quản lý thuế nhưng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.

Đo lường khoảng cách thuế và chi tiêu thuế cũng là kinh nghiệm đáng lưu ý trong quản lý thuế. Cơ quan thuế Brazil, với hỗ trợ phương pháp luận của IMF, ước tính thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân 110,4 tỷ real mỗi năm giai đoạn 2015-2019, tương đương 1,5% GDP. Song song với đó, Cơ quan Kiểm toán tối cao Brazil kiểm toán các ưu đãi thuế liên bang năm 2023-2024 và chỉ ra những khoảng trống về quản trị, kèm rủi ro đối với tính bền vững tài khóa. Hai công cụ này giúp trả lời câu hỏi quan trọng hơn mức tăng thu hằng năm: Nguồn thu có bền vững không và mỗi đồng ưu đãi có tạo thêm đầu tư, việc làm, chuyển giao công nghệ với lợi ích cao hơn nguồn thu thuế giảm đi do ưu đãi hay không.

Để tăng cường quản lý thuế, số hóa cần được kiểm soát độc lập ngay từ đầu. Hệ thống Coretax của Indonesia vận hành từ tháng 01/2025 gặp trục trặc ban đầu, thu thuế cả năm chỉ đạt 87,6% mục tiêu. Cơ quan Kiểm toán nước này (BPK) chỉ ra hệ thống chưa đối chiếu được dữ liệu nộp thuế với báo cáo của người nộp thuế, khiến 6.210 tỷ Rupiah thuế tiềm năng bị đình trệ. Đến tháng 4/2026, thu thuế mới tăng trở lại 16,1%.

Khi từng chính sách miễn giảm được KTNN đánh giá rõ ràng bằng kết quả thực tế, thuật toán được kiểm định độc lập, chi phí tuân thủ được nhìn nhận đầy đủ, thuế sẽ không còn là gánh nặng huy động, mà thực sự trở thành công cụ kiến tạo, nuôi dưỡng nguồn lực cho khát vọng tăng trưởng hai con số.

Từ kiểm toán số thu đến kiểm toán chất lượng nguồn thu

Đứng trước yêu cầu “nuôi dưỡng nguồn thu”, KTNN không thể chỉ dừng lại ở các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống nhằm phát hiện thu thiếu, thu sai. Việc chuyển dịch không gian kiểm toán theo các hướng trên sẽ góp phần đánh giá toàn diện chất lượng, tính bền vững và hiệu quả quản trị nguồn thu, qua đó thúc đẩy tăng thu bền vững và tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế.

Kiểm toán “cầu nối tăng thu”: Theo hướng này, kiểm toán cần bóc tách mức tăng thu theo các tiêu chí như tăng trưởng GDP thực, lạm phát, thay đổi chính sách, thu hồi nợ, cải thiện tuân thủ và khoản thu một lần. Một địa phương vượt dự toán không hẳn quản lý tốt nếu dự toán chưa sát thực tế hoặc nguồn tăng chủ yếu đến từ đất. Ngược lại, cơ sở thu mở rộng, nợ không có khả năng thu giảm và chi phí tuân thủ được cải thiện phản ánh chất lượng quản trị tốt hơn.

Kiểm toán chi tiêu thuế theo vòng đời ưu đãi: Nội dung này hướng tới đánh giá một báo cáo chi tiêu thuế theo chuẩn thống nhất, làm rõ số thu ngân sách bị giảm đi, nhóm thực hưởng và kết quả đầu ra. Ưu đãi đầu tư cần được đo bằng vốn tăng thêm, việc làm có năng suất, chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Nếu các ưu đãi lớn không đạt mục tiêu, cần kiến nghị cơ chế tự hết hiệu lực để chống lãng phí nguồn lực quốc gia.

Kiểm toán thuật toán và mô hình rủi ro: Khi cơ quan quản lý thuế chuyển sang dùng phần mềm chấm điểm rủi ro người nộp thuế, KTNN cần phải đi sâu kiểm định các dữ liệu đầu vào, logic chấm điểm, tỷ lệ cảnh báo sai, nguy cơ bỏ sót của thuật toán, khả năng giải trình, độ chính xác theo thời gian, quyền can thiệp thủ công…. Nếu mô hình bị lệch, hậu quả sẽ là phân loại sai đối tượng, kiểm tra dàn trải, hoàn thuế chậm trễ.... tạo ra sự bất bình đẳng. Việc chuẩn hóa kết quả kiểm toán thành nguồn thông tin phản hồi độc lập, có cấu trúc sẽ giúp cơ quan thuế hiệu chỉnh thuật toán ngày càng chính xác. 

Kiểm toán “hành trình tuân thủ”: Ngành thuế công bố 6 tháng đầu năm 2026 đã cắt giảm 82 thủ tục hành chính, tiết kiệm khoảng 4.400 tỷ đồng chi phí tuân thủ. Kiểm toán có thể kiểm chứng bằng cách theo dõi trọn quy trình của một số nhóm điển hình (doanh nghiệp hoàn thuế, người bán qua nền tảng số…): như thời gian xử lý, số lần cung cấp lại dữ liệu, chi phí phần mềm, nguyên nhân phát sinh tranh chấp …. Đây là những yếu tố phản ánh gánh nặng thực tế, để từ đó đánh giá số lượng thủ tục cắt giảm có thực sự tiết kiệm được cho ngân sách và cho người nộp thuế hay không.

Nghiên cứu thí điểm kiểm toán dữ liệu liên tục: Trên một số luồng dữ liệu rủi ro cao (hóa đơn, hoàn thuế, giao dịch liên kết…), việc đối chiếu định kỳ giúp sớm nhận diện bất thường thay vì chờ kết thúc năm. Về bản chất, KTNN không tham gia điều hành hay quyết định nghĩa vụ thuế, mà kiểm tra độc lập chất lượng dữ liệu và hiệu quả kiểm soát. Hướng đi này cần cơ sở pháp lý, quy chế bảo mật, phân quyền rõ ràng và nên bắt đầu ở quy mô nhỏ.

Mục tiêu thu ngân sách 17% GDP từ thuế và phí chỉ có ý nghĩa bền vững khi đi cùng một nền kinh tế quy mô lớn hơn, khu vực kinh tế chính thức rộng mở hơn và chi phí tuân thủ thấp hơn. Khi từng chính sách miễn giảm được KTNN đánh giá rõ ràng bằng kết quả thực tế, thuật toán được kiểm định độc lập, chi phí tuân thủ được nhìn nhận đầy đủ, thuế sẽ không còn là gánh nặng huy động, mà thực sự trở thành công cụ kiến tạo, nuôi dưỡng nguồn lực cho khát vọng tăng trưởng hai con số./.

LĂNG TRỊNH MAI HƯƠNG, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, KTNN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/kiem-toan-chat-luong-nguon-thu-nuoi-duong-dong-luc-tang-truong