Kiểm toán nhà nước trong cuộc cách mạng số: Từ nhận thức đến hành động thực chất Bài 2: Những nền móng đầu tiên của hệ sinh thái kiểm toán số

Hành trình chuyển đổi số (CĐS) tại Kiểm toán nhà nước (KTNN) được bắt đầu từ sớm, trên nền tảng công nghệ thông tin (CNTT) được kiên trì gây dựng qua nhiều năm. Đến nay, KTNN đã từng bước hình thành hạ tầng số, dữ liệu và các nền tảng công nghệ, tạo tiền đề chuyển từ ứng dụng CNTT đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái kiểm toán số hiện đại, liêm chính và dựa trên dữ liệu.

KTNN đã đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán. Ảnh tư liệu

KTNN đã đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán. Ảnh tư liệu

Từ những bước đi đầu tiên đến nền tảng quản trị số

Việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, CĐS trong hoạt động kiểm toán được KTNN quan tâm từ sớm. Ngay từ năm 2015, KTNN đã xây dựng một số phần mềm, công cụ phục vụ các cuộc kiểm toán ngân hàng lớn và áp dụng phần mềm CAATs để phân tích, xử lý dữ liệu lớn.

Đến năm 2019, KTNN là một trong những cơ quan đầu tiên thực hiện thành công việc đưa tất cả ứng dụng trao đổi dữ liệu vào trục tích hợp; đồng thời kết nối trục liên thông văn bản quốc gia với tất cả các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII, XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ KTNN lần thứ VII và VIII, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS quốc gia, KTNN tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện hạ tầng số, phát triển dữ liệu số, xây dựng nền tảng quản trị số và nghiên cứu ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán.

Từ những phần mềm thử nghiệm ban đầu, đến nay, KTNN đang vận hành 44 phần mềm quản lý và nghiệp vụ, đồng thời ứng dụng AI trong một số lĩnh vực cốt lõi. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, AI hỗ trợ lựa chọn đơn vị được kiểm toán dựa trên tiêu chí định lượng và phân tích dữ liệu lớn, giảm phụ thuộc vào đánh giá chủ quan. Ở lĩnh vực ngân sách địa phương, AI hệ thống hóa các dạng sai sót phổ biến từ các báo cáo kiểm toán cũ để làm giàu kho kinh nghiệm toàn Ngành. Trong kiểm soát chất lượng, AI hỗ trợ rà soát quy trình, phát hiện nhanh các kết luận thiếu căn cứ hoặc chưa rõ ràng trong dự thảo báo cáo.

Nếu hạ tầng công nghệ là điều kiện cần thì dữ liệu chính là nguồn lực cốt lõi của kiểm toán số. KTNN đã đẩy mạnh số hóa hồ sơ, chuẩn hóa dữ liệu dùng chung. Hơn 1.600 hồ sơ cuộc kiểm toán từ năm 2017 đến năm 2025 được số hóa. Cổng trao đổi thông tin điện tử của KTNN đã cấp gần 7.000 tài khoản cho khoảng 2.800 đơn vị được kiểm toán, tiếp nhận trực tuyến hơn 11.500 báo cáo điện tử, từng bước chuyển phương thức thu thập chứng từ từ thủ công sang điện tử.

Thông qua liên thông dữ liệu với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước, KTNN đã xây dựng kho dữ liệu lớn trên 100 triệu bản ghi phục vụ phân tích nghiệp vụ. Đây là cơ sở để hoạt động kiểm toán từng bước chuyển từ khai thác thông tin theo từng cuộc kiểm toán sang khai thác, đối chiếu và phân tích dữ liệu trên quy mô lớn.

Cùng với hạ tầng và dữ liệu, KTNN đặc biệt chú trọng bảo đảm an toàn thông tin. KTNN đã vận hành mô hình bảo mật nhiều lớp với các giải pháp kỹ thuật hiện đại. Quyết định số 785/QĐ-KTNN phê duyệt an toàn thông tin Cấp độ 4 đối với “Hệ thống tích hợp, kết nối liên thông dữ liệu của KTNN với các hệ thống thông tin của đơn vị được kiểm toán”. Đây là cấp độ bảo mật cao nhất đối với hệ thống thông tin của các Bộ, ngành phi quốc phòng. Trong năm 2025, hệ thống an ninh mạng đã chặn thành công hơn 272.000 lượt tấn công.

Như vậy, nền móng của kiểm toán số không chỉ là phần mềm hay thiết bị công nghệ, mà là sự hình thành đồng bộ của hạ tầng, dữ liệu, khả năng kết nối và an toàn thông tin - những yếu tố quyết định khả năng chuyển đổi phương thức kiểm toán.

Chủ động thử nghiệm, đưa AI vào hoạt động kiểm toán

Chiến lược CĐS của KTNN đến năm 2030 xác định 4 mục tiêu chính, trong đó có tạo nền tảng chuyển đổi phương pháp kiểm toán truyền thống sang phương pháp kiểm toán dựa trên dữ liệu số; ứng dụng CNTT để minh bạch, công khai hoạt động và kết quả kiểm toán; tăng cường các cuộc kiểm toán tại trụ sở KTNN.

Điều đó cho thấy đích đến của CĐS không dừng ở xây dựng hạ tầng hay số hóa quy trình, mà phải đưa công nghệ vào hoạt động nghiệp vụ, tạo ra thay đổi có thể đo lường về chất lượng, phạm vi và hiệu quả kiểm toán.

Hướng tới đích đến đó, các đơn vị trực thuộc KTNN đã chủ động tìm tòi những cách làm phù hợp để đưa công nghệ và dữ liệu vào công việc hằng ngày. Theo Kiểm toán trưởng KTNN khu vực IX Trương Đức Thành, đơn vị đã thành lập Tổ CĐS, chủ động khai thác dữ liệu từ phần mềm của các đơn vị được kiểm toán và ứng dụng AI vào phân tích dữ liệu. Năm 2026, KTNN khu vực IX thử nghiệm và áp dụng thành công Microsoft 365 Copilot trong kiểm toán lĩnh vực thuế, góp phần mở rộng phạm vi dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý thông tin, nâng cao năng suất và tăng khả năng phát hiện sai sót có tính hệ thống mà phương pháp truyền thống khó nhận diện đầy đủ.

CĐS là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn Ngành, tuyệt đối không triển khai chung chung, hình thức. Sự thành bại của CĐS được đo lường bằng chính hiệu quả nghiệp vụ thực tế tại các đơn vị tác nghiệp hiện trường.

Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa

Tại KTNN khu vực I, CĐS bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức và thói quen làm việc của kiểm toán viên (KTV). Đơn vị đã thành lập Tổ xung kích ứng dụng CNTT từ sớm và đến tháng 6/2026 thành lập Tổ CĐS theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Quán triệt nguyên tắc “con người trước, công nghệ sau”, đơn vị ưu tiên nâng cao trình độ số cho KTV thông qua những sản phẩm thiết thực.

Ông Hoàng Tuấn Long - Phó Phòng Tổng hợp, KTNN khu vực I - cho biết, các thành viên Tổ xung kích CNTT đã tự mua tài khoản, nghiên cứu, xây dựng “Sổ tay và Thư viện câu lệnh sử dụng AI dành cho kiểm toán viên nhà nước” dài 60 trang, hướng dẫn viết câu lệnh phân tích dữ liệu và nguyên tắc bảo mật trong kiểm toán thu ngân sách, chi thường xuyên, đầu tư xây dựng cơ bản.

Đơn vị cũng tự biên soạn tài liệu tập huấn Luật Bảo vệ bí mật nhà nước dưới dạng video, infographic; xây dựng Ebook tra cứu Luật Thuế ngoại tuyến; ứng dụng Google Form tự động tổng hợp biểu mẫu, giảm thời gian tác nghiệp thủ công. Các công cụ này đã được sử dụng trực tiếp trong một số cuộc kiểm toán tại tỉnh Hà Nam và TP. Hà Nội.

Tại KTNN khu vực XI, Ban Chỉ đạo phát triển ứng dụng CNTT do Kiểm toán trưởng trực tiếp làm Trưởng Ban đã phân công nhiệm vụ số hóa hồ sơ kiểm toán đến từng tổ kiểm toán và KTV. Năm 2026, đơn vị tiên phong đầu tư và đưa vào ứng dụng phiên bản ChatGPT hỗ trợ bóc tách, phân tích dữ liệu kiểm toán, mang lại hiệu quả tích cực trong cuộc kiểm toán Chuyên đề đầu tư phần mềm và thuê dịch vụ CNTT tại tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình...

Những sáng kiến từ các đơn vị cho thấy CĐS đang chuyển từ cấp độ “có công nghệ” sang “dùng công nghệ để làm nghiệp vụ”. Giá trị của nền tảng số vì thế không nằm ở số lượng phần mềm được xây dựng, mà ở khả năng biến dữ liệu thành thông tin, biến thông tin thành bằng chứng kiểm toán và biến bằng chứng thành những phát hiện, kiến nghị có giá trị.

Từ nền móng công nghệ đến giá trị kiểm toán

Từ mục tiêu chiến lược của toàn Ngành đến nỗ lực trong từng đơn vị, CĐS tại KTNN đang chuyển từ giai đoạn xây dựng nền móng sang đưa công nghệ vào thực chất hoạt động. Hạ tầng, dữ liệu, AI và những sáng kiến tại đơn vị đang từng bước tạo nên hệ sinh thái kiểm toán số, đồng thời đưa tư duy số vào thao tác hằng ngày của KTV.

Trên nền tảng đó, KTNN đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán về CNTT, CĐS, chỉ ra những bất cập, điểm nghẽn trong đầu tư công nghệ, phần mềm tại các địa phương; kiến nghị tháo gỡ nút thắt thể chế, tối ưu hóa hiệu quả nguồn lực công.

Khi dữ liệu và công nghệ ngày càng tham gia sâu vào quá trình kiểm toán, câu hỏi đặt ra không còn chỉ là đã chi bao nhiêu cho CĐS, đầu tư công nghệ có đúng quy định hay không, mà phải tiến tới đánh giá nguồn lực đó tạo ra giá trị gì, hiệu quả đến đâu và có thực sự góp phần nâng cao năng lực quản trị hay không.

Đó cũng là bước phát triển tiếp theo của kiểm toán trong môi trường số: Từ kiểm soát đầu vào, chi phí đến đánh giá kết quả, hiệu quả và giá trị thực sự được tạo ra từ nguồn lực công.

Nội dung này sẽ được làm rõ trong Bài 3: “Kiểm toán chuyển đổi số: Từ kiểm soát chi phí đến đánh giá hiệu quả”./.

NGUYỄN LY

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/kiem-toan-nha-nuoc-trong-cuoc-cach-mang-so-tu-nhan-thuc-den-hanh-dong-thuc-chat-bai-2-nhung-nen-mong-dau-tien-cua-he-sinh-thai-kiem-toan-so