Kiểm toán nhà nước trong cuộc cách mạng số: Từ nhận thức đến hành động thực chất. Bài cuối: Kiến tạo hệ sinh thái kiểm toán số
Chuyển đổi số (CĐS) là yêu cầu tất yếu để Kiểm toán nhà nước (KTNN) nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán. Kiến tạo một hệ sinh thái kiểm toán số vì thế không chỉ là bài toán đầu tư hạ tầng hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), mà là quá trình hoàn thiện đồng bộ thể chế, quy trình, dữ liệu, công nghệ và con người, hướng tới một KTNN sâu hơn, nhanh hơn, chính xác hơn và chủ động hơn trong nhận diện, cảnh báo rủi ro tài chính công, tạo ra giá trị lớn hơn cho quản trị quốc gia.

KTNN tổ chức các lớp giới thiệu tổng quát một số công cụ AI phổ biến phục vụ hoạt động kiểm toán. Ảnh N.LY
Bốn trụ cột chiến lược định hình tương lai kiểm toán số
Thực hiện Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS quốc gia, KTNN đang nỗ lực xây dựng một hệ sinh thái số hiện đại, chuyên nghiệp, dựa trên 4 trụ cột chiến lược:
Hoàn thiện hành lang pháp lý và quy trình nghiệp vụ số: KTNN đang tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các quy định, hướng dẫn kỹ thuật chuẩn hóa quy trình kiểm toán trên môi trường số. Việc thể chế hóa chuẩn mực kiểm toán số đòi hỏi các quy định rõ ràng về tính minh bạch của thuật toán, tiêu chuẩn đạo đức khi xử lý dữ liệu, cơ chế giám sát độc lập đối với các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI), cũng như định mức kinh tế - kỹ thuật cho việc tạo lập, số hóa dữ liệu.
Khung Kiến trúc số của KTNN giai đoạn 2026-2031 đang đi đến những bước hoàn thiện cuối cùng trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Đây là cơ sở để KTNN triển khai các nhiệm vụ CĐS theo một định hướng thống nhất, gắn đầu tư công nghệ với yêu cầu thực tế của hoạt động kiểm toán và từng bước nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng dữ liệu trong toàn Ngành.
Đồng thời, cải cách mạnh mẽ quy trình nghiệp vụ theo hướng chuyển đổi từ phương thức kiểm toán chọn mẫu truyền thống dựa trên hồ sơ giấy sang kiểm toán toàn diện 100% dữ liệu điện tử, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho kiểm toán viên tác nghiệp.
Chuẩn hóa dữ liệu số và kết nối liên thông quốc gia: Quán triệt nguyên tắc dữ liệu phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung”, toàn Ngành đang đẩy mạnh chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu, số hóa triệt để 100% hồ sơ cuộc kiểm toán, hồ sơ cán bộ và văn bản hành chính. Đồng thời, KTNN chủ động hoàn thiện hạ tầng và giải pháp an toàn thông tin để kết nối, chia sẻ dữ liệu trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và hệ thống quản lý của các Bộ, ngành, địa phương.
Đến năm 2031, KTNN phấn đấu tối thiểu 70% cuộc kiểm toán ứng dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu lớn và AI; từng bước đưa kiểm toán từ xa và kiểm toán dữ liệu trở thành phương thức chủ đạo.
Đẩy mạnh ứng dụng AI, phân tích dữ liệu lớn và xây dựng “bản đồ nhiệt” rủi ro: Để bóc tách thông tin từ các khối dữ liệu khổng lồ và phi cấu trúc, KTNN tập trung phát triển các công nghệ chiến lược như AI, học máy và xử lý ngôn ngữ tự nhiên nhằm tự động hóa quá trình đối chiếu chứng từ, rà soát văn bản, kiểm tra tuân thủ quy trình và phát hiện các mẫu hành vi bất thường trong giao dịch.
Đặc biệt, thông qua việc phân tích chuyên sâu nguồn dữ liệu thô tập trung, KTNN từng bước xây dựng “bản đồ nhiệt” rủi ro theo từng ngành, lĩnh vực, địa bàn, giúp nhận diện sớm các vùng rủi ro cao, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát ngân sách hoặc lãng phí nguồn lực công. Từ đó, nâng cao năng lực dự báo và hỗ trợ lãnh đạo KTNN phê duyệt kế hoạch kiểm toán bảo đảm tính trọng tâm, trọng điểm, tránh chồng chéo.
Đào tạo nhân lực số và thu hút nhân tài: Con người là yếu tố quyết định sự thành bại của cuộc CĐS, vì vậy, KTNN chú trọng xây dựng đội ngũ kiểm toán viên “vừa hồng, vừa chuyên”, có tư duy đổi mới và kỹ năng làm chủ công nghệ tiên tiến. Hiện nay, KTNN đang triển khai Khung kiến thức, kỹ năng số 4 cấp độ (cơ bản, trung cấp, nâng cao, chuyên sâu), thiết kế “đúng vai, sát việc” cho từng vị trí công tác.
Đồng thời, KTNN nghiên cứu ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút, trọng dụng các chuyên gia công nghệ thông tin, kiến trúc sư hệ thống, nhà khoa học dữ liệu và chuyên gia an ninh mạng chất lượng cao.
Bốn trụ cột có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau; trong đó thể chế và quy trình tạo hành lang pháp lý, dữ liệu là nền tảng, công nghệ là công cụ, con người là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành. Sự kết nối giữa các yếu tố này sẽ tạo nền tảng để KTNN từng bước hình thành phương thức kiểm toán hiện đại, chủ động nhận diện, cảnh báo rủi ro và nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán, đáp ứng yêu cầu phát triển trong dài hạn.
Đổi mới thực chất, nói không với hình thức
Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa đã nhấn mạnh: “CĐS là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, tuyệt đối không triển khai chung chung, hình thức”. Theo đó, việc triển khai CĐS phải dựa trên nhu cầu thực tiễn, lấy hiệu quả nghiệp vụ làm thước đo cao nhất. Công nghệ và dữ liệu triển khai phải giải quyết được đúng “điểm nghẽn”, tháo gỡ khó khăn cụ thể trong hoạt động kiểm toán.
Nêu cao ý chí quyết tâm, KTNN đã đưa kết quả thực hiện nhiệm vụ CĐS và ứng dụng công nghệ vào hệ thống chỉ tiêu đánh giá thi đua, khen thưởng, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể và cá nhân. Việc triển khai được theo dõi, giám sát định kỳ hằng tháng/quý/năm; kiên quyết trừ điểm KPI và xem xét trách nhiệm người đứng đầu đối với các đơn vị để xảy ra tình trạng chậm trễ hoặc triển khai không hiệu quả.
Để khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên, KTNN khuyến khích các đơn vị chủ động tìm tòi, thí điểm các sáng kiến công nghệ mới, tự xây dựng công cụ hỗ trợ kiểm toán xuất phát từ bài toán thực tế. Những tập thể, cá nhân có sản phẩm công nghệ ứng dụng hiệu quả, tạo bước tiến mới trong bóc tách rủi ro, sai phạm hoặc nâng cao năng suất lao động đều được kịp thời biểu dương, khen thưởng xứng đáng, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn Ngành.
Là hạt nhân thúc đẩy CĐS của Ngành, Cục Công nghệ thông tin đang phối hợp chặt chẽ với đối tác công nghệ khẩn trương hoàn thiện Khung kiến trúc CĐS KTNN giai đoạn 2026-2030, định hình rõ lộ trình chuyển đổi từ hạ tầng truyền thống sang nền tảng điện toán đám mây, xây dựng Trung tâm dữ liệu tập trung, bổ sung hạ tầng tính toán hiệu năng cao cho AI và thiết lập hệ thống bảo mật theo mô hình Zero Trust.
Ngoài ra, Dự án “CĐS và ứng dụng AI trong hoạt động kiểm toán” (phê duyệt tháng 5/2026) đang được khẩn trương triển khai, thí điểm ứng dụng AI vào một số lĩnh vực cốt lõi ngay trong năm 2026, như hỗ trợ lựa chọn đối tượng, nội dung trọng tâm khi lập kế hoạch kiểm toán và hỗ trợ kiểm toán báo cáo tài chính, ngân sách địa phương.
Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ tăng cường bồi dưỡng kỹ năng số bài bản theo mô hình bậc thang nhằm chuẩn hóa năng lực công nghệ cho lực lượng kiểm toán viên, lấy Khung kiến thức, kỹ năng số 4 cấp độ làm chuẩn mực để đào tạo kỹ năng ứng dụng thực tiễn, như: Khai thác dữ liệu lớn, tương tác với AI, phân tích báo cáo tài chính điện tử, sử dụng phần mềm kiểm toán chuyên ngành và tuân thủ kỷ luật bảo mật thông tin.
Các KTNN chuyên ngành và khu vực cũng đã chủ động rà soát quy trình tác nghiệp; khai thác dữ liệu thu thập được qua Cổng trao đổi thông tin điện tử và dữ liệu liên thông Bộ, ngành; phối hợp với Cục Công nghệ thông tin ứng dụng thuật toán phân tích để xây dựng “bản đồ nhiệt” rủi ro cho từng lĩnh vực như: Thu ngân sách nhà nước, chi đầu tư phát triển, tài chính - ngân hàng, đất đai - tài nguyên và CĐS địa phương.
Kiến tạo hệ sinh thái kiểm toán số là một hành trình dài, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy, thể chế, quy trình nghiệp vụ đến hạ tầng công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực. Trong hành trình đó, cùng với sự chỉ đạo, định hướng thống nhất của lãnh đạo KTNN, những nỗ lực tại từng đơn vị, từng lĩnh vực đang góp phần tạo nên sự chuyển động mạnh mẽ trong toàn Ngành. Việc gắn kết đồng bộ thể chế, công nghệ, dữ liệu và con người sẽ tạo nền tảng vững chắc để KTNN nâng cao chất lượng kiểm toán, gia tăng giá trị của các phát hiện, kiến nghị và đóng góp hiệu quả hơn cho quản trị quốc gia./.

