Kiến tạo hệ sinh thái đào tạo nguồn nhân lực văn hóa
Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa cần gắn kết tri thức nhà trường với thực tiễn nghề nghiệp, thông qua cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường và các đơn vị hoạt động văn hóa.

Người làm văn hóa không chỉ vững chuyên môn mà còn phải am hiểu thị trường, công chúng, công nghệ và kỹ năng tổ chức - Ảnh: ITN.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành văn bản số 7692/BGDĐT-HSSV hướng dẫn tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với xây dựng văn hóa học đường, khuyến khích các cơ sở giáo dục tổ chức trải nghiệm, giáo dục di sản, khai thác Bản đồ số Văn hóa Việt Nam và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Qua đó, đưa di sản đến gần hơn với người học, đồng thời bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo cho nhân lực văn hóa tương lai.
Doanh nghiệp cùng đào tạo nhân lực văn hóa
Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, hoạt động trải nghiệm, giáo dục di sản cần gắn với xây dựng văn hóa học đường, giáo dục đạo đức, lối sống và phát triển năng lực người học. Những chuyến tham quan bảo tàng, di tích, tìm hiểu nghề truyền thống cùng nghệ nhân hay thưởng thức nghệ thuật giúp người học tiếp nhận kiến thức sinh động hơn, bồi đắp ý thức gìn giữ di sản và trách nhiệm với văn hóa cộng đồng.
Với sinh viên các ngành văn hóa, nghệ thuật, di sản, bảo tàng, thư viện, du lịch, truyền thông và quản lý văn hóa, việc kết hợp lý thuyết với thực hành càng cần thiết. Người học không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải am hiểu hoạt động của các thiết chế văn hóa, có kỹ năng tổ chức, quản lý, sáng tạo và đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Không gian hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng, từ các cơ quan quản lý, thiết chế công lập đến doanh nghiệp sản xuất phim, tổ chức biểu diễn, phát hành xuất bản phẩm, sự kiện và du lịch văn hóa. Nhu cầu nhân lực vì thế đa dạng hơn, đòi hỏi người làm văn hóa không chỉ vững chuyên môn mà còn am hiểu thị trường, công chúng, công nghệ và kỹ năng tổ chức.

Đào tạo nhân lực văn hóa cần sự phối hợp thường xuyên giữa nhà nước, nhà trường và các đơn vị hoạt động văn hóa - Ảnh: T. Hòa.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, từng chỉ ra tình trạng thiếu cơ sở đào tạo chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa. Bởi vậy cần tăng cường trao đổi chuyên gia, đầu tư cho đào tạo, hỗ trợ các ý tưởng sáng tạo và kết nối với thị trường. Nhân lực văn hóa không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có kỹ năng sáng tạo, quản lý và đưa sản phẩm ra thị trường.
Theo GS.TS Đinh Xuân Dũng - nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương, khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn vẫn là vấn đề cần quan tâm. Liên kết giữa nhà nước, nhà trường và các đơn vị hoạt động văn hóa ở nhiều cơ sở đào tạo chủ yếu dựa vào quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo các bên nên hợp tác dễ gián đoạn khi nhân sự thay đổi.
Hoạt động thực tập nghề nghiệp chưa thực sự trở thành cấu phần quan trọng trong chương trình đào tạo. Ở nhiều nước phát triển, sinh viên phải thực tập tại các đơn vị sáng tạo văn hóa hoặc doanh nghiệp, có báo cáo và được đánh giá như một học phần chính thức; doanh nghiệp cũng tham gia với vai trò chủ thể đào tạo.

Chủ thể thứ ba không chỉ gồm doanh nghiệp mà còn có các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tàng, thư viện, đoàn nghệ thuật, báo chí, xuất bản - Ảnh minh họa: ITN.
Gắn đào tạo với nghiên cứu và sáng tạo
Để khắc phục hạn chế, GS.TS Đinh Xuân Dũng cho rằng, cần xây dựng liên kết nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp thành cơ chế ổn định, không phụ thuộc vào quan hệ cá nhân hay sáng kiến nhất thời.
Nhà nước cần hoàn thiện chính sách, quy định rõ trách nhiệm các bên trong phối hợp đào tạo, thực tập và sử dụng nhân lực, có cơ chế giám sát, đánh giá. Thực tập nghề nghiệp cần trở thành học phần chính thức, có tiêu chí đánh giá và sự tham gia của đơn vị tiếp nhận.
Nhà trường cần đổi mới chương trình, mở rộng hợp tác với các đơn vị hoạt động văn hóa để cập nhật thực tiễn, nâng cao chất lượng giảng dạy.
Đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn phải gìn giữ, phát huy vốn tri thức tích lũy, kết hợp bổ sung kiến thức mới. Việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và nội dung đào tạo cũng cần dựa trên nhu cầu nhân lực thực tế.
GS.TS Đinh Xuân Dũng đề xuất 4 phương thức đào tạo: Theo địa chỉ; Văn bằng hai ở các ngành báo chí, truyền thông, xuất bản, quản lý văn hóa; Bồi dưỡng, đào tạo lại cán bộ văn hóa; Xây dựng vườn ươm tài năng và khởi nghiệp.
Chủ thể thứ ba không chỉ gồm doanh nghiệp mà còn có các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tàng, thư viện, đoàn nghệ thuật, báo chí, xuất bản. Các đơn vị này có thể tham gia đào tạo thông qua xác định nhu cầu nhân lực, tiếp nhận sinh viên thực tập, góp ý chương trình và đánh giá năng lực nghề nghiệp.
Mỗi đơn vị có yêu cầu chuyên môn riêng, từ bảo tồn, trưng bày, quản lý di sản đến biểu diễn, sản xuất nội dung và truyền thông văn hóa. Sự tham gia của họ giúp sinh viên trải nghiệm môi trường nghề nghiệp và định hình hướng đi sau tốt nghiệp.

Ảnh minh họa: ITN.
Môi trường đào tạo nhân lực văn hóa cần gắn với học tập, nghiên cứu và sáng tạo trên nền tảng số. Bản đồ số văn hóa Việt Nam, kho học liệu số, VR/AR và AI có thể hỗ trợ khai thác tư liệu, tái hiện di sản, xây dựng bài giảng và thử nghiệm hình thức giới thiệu văn hóa mới.
Tuy nhiên, công nghệ cần đi cùng tư liệu chính xác và hướng dẫn chuyên môn. Sản phẩm số phải bảo đảm độ tin cậy, bản quyền và giá trị gốc của di sản. Vì vậy, giáo dục văn hóa số, đạo đức số và trách nhiệm trên môi trường mạng cũng cần được chú trọng.
Nhà trường cần tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên tham gia nghiên cứu, sáng tạo và trải nghiệm tại các thiết chế, doanh nghiệp văn hóa, cộng đồng sở hữu di sản. Qua đó, gắn kiến thức với thực tiễn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp và năng lực khởi nghiệp.
Đào tạo nhân lực văn hóa cần sự phối hợp thường xuyên giữa nhà nước, nhà trường và các đơn vị hoạt động văn hóa. Khi mỗi bên có trách nhiệm cụ thể, liên kết thực chất, hệ sinh thái đào tạo mới có thể phát triển bền vững, góp phần tạo đội ngũ vững chuyên môn, giàu trách nhiệm với văn hóa dân tộc.


