Kiến tạo nền móng dữ liệu số
Sau thành công của Chiến dịch 90 ngày làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai, Thái Nguyên tiếp tục triển khai đồng thời Kế hoạch số 132 về Chiến dịch 100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu và Kế hoạch số 133 về đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. Hai nhiệm vụ có quy mô lớn, trải rộng trên toàn tỉnh, với hàng triệu hồ sơ, thửa đất cần xử lý.
Phía sau những con số về tiến độ là một yêu cầu lớn hơn, đó là từng bước chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ phân tán sang quản trị bằng dữ liệu số đồng bộ, chính xác và có khả năng khai thác lâu dài.

Rà soát, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu đất đai được triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh, góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, chính xác và phục vụ hiệu quả công tác quản lý, giải quyết thủ tục hành chính.
Cuộc “tổng lực” với dữ liệu
Nếu chuyển đổi số được ví như một ngôi nhà, dữ liệu chính là phần móng. Nền móng càng đầy đủ, chính xác thì khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác phục vụ quản lý nhà nước, người dân, doanh nghiệp càng hiệu quả. Đó cũng là lý do Thái Nguyên triển khai đồng thời hai nhiệm vụ lớn về dữ liệu trong năm 2026.
Khối lượng công việc trải rộng trên 92 xã, phường, liên quan đến hàng triệu hồ sơ lưu trữ và gần 4 triệu thửa đất cần rà soát, chuẩn hóa, cập nhật. Riêng với nhiệm vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, tỉnh chủ động rút thời gian thực hiện từ 270 ngày theo yêu cầu của Trung ương xuống còn 180 ngày.
Thời gian rút ngắn trong khi khối lượng công việc rất lớn khiến áp lực tiến độ hiện hữu ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Dữ liệu cần xử lý không chỉ là những hồ sơ mới phát sinh mà còn được hình thành qua nhiều thời kỳ, lưu trữ dưới nhiều hình thức, phần mềm khác nhau.

Sở Nông nghiệp và Môi trường huy động lực lượng toàn ngành hỗ trợ các địa phương đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.
Sau sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu tập hợp, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu càng trở nên cấp thiết. Điểm đáng chú ý là việc tổ chức thực hiện được triển khai theo hướng huy động tổng lực. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp, tiến độ được kiểm đếm thường xuyên.
Sở Nội vụ, cơ quan tham mưu triển khai Kế hoạch 132, đã ban hành trên 55 văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc; tổ chức 2 hội nghị trực tuyến với hơn 100 điểm cầu, khoảng 1.000 người tham dự. Nhóm hỗ trợ trực tuyến với hơn 200 thành viên được thành lập để trao đổi, giải đáp những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Không chỉ hướng dẫn từ xa, cán bộ chuyên môn còn trực tiếp xuống cơ sở theo hình thức “cầm tay chỉ việc”. Trong 100 ngày thực hiện chiến dịch, hơn 4.200 lượt người được huy động hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, trong đó có công chức, viên chức, giáo viên và lực lượng vũ trang. Cùng với đó, các đoàn công tác liên ngành đã kiểm tra việc triển khai tại 92/92 xã, phường nhằm nhận diện những “điểm nghẽn” để kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ.

Xã Đại Phúc là một trong những địa phương có khối lượng lớn hồ sơ, thửa đất cần rà soát, chuẩn hóa trong quá trình hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.
Kết quả cho thấy quy mô công việc được xử lý trong thời gian ngắn là rất lớn. Đến ngày 11-8, toàn tỉnh lựa chọn 1.592m tài liệu lưu trữ có tần suất sử dụng cao để số hóa và đã hoàn thành toàn bộ, tương ứng hơn 8,53 triệu trang A4. 113/113 cơ quan, tổ chức, đơn vị hoàn thành mục tiêu số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ có tần suất sử dụng cao từ năm 2015 trở về trước.
Cùng với số hóa tài liệu, 117 nghìn hồ sơ điện tử đã được hình thành, trong đó hơn 104 nghìn hồ sơ đã được cập nhật, chuẩn hóa tại Hệ thống quản lý văn bản và điều hành của tỉnh. Song song với số hóa tài liệu lưu trữ, hoạt động chỉnh lý, sắp xếp, phân loại tài liệu cũng đạt 100% khối lượng, với gần 31.000m tài liệu.
Chiến dịch 100 ngày đã rà soát, phân loại, sắp xếp và chuẩn hóa một khối lượng lớn hồ sơ hình thành qua nhiều năm, tạo nền tảng để dữ liệu được tìm kiếm, khai thác và sử dụng hiệu quả. Đây là bước chuyển từ số hóa tài liệu sang quản lý, khai thác dữ liệu theo hướng khoa học, thống nhất.
Đồng chí Sầm Văn Trân, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh, cho rằng: Từ thực tiễn triển khai chiến dịch có thể rút ra bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ; phát huy trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn và chủ động hỗ trợ nhân lực đối với những đơn vị còn khó khăn.
Tăng tốc hoàn thiện dữ liệu đất đai
Nếu Kế hoạch 132 giải quyết một khối lượng lớn dữ liệu hành chính thì Kế hoạch 133 tập trung vào một lĩnh vực có phạm vi rộng, dữ liệu phức tạp và liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hầu hết người dân, đó là đất đai.
Sau hơn 4 tháng triển khai, chiến dịch đã đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh đã chuẩn hóa, bổ sung và được Hệ thống thông tin đất đai Quốc gia ghi nhận thêm hơn 766.000 thửa đất. Nâng tổng số thửa đất đã được chuẩn hóa lên hơn 2,32 triệu thửa, đạt khoảng 58,3% tổng số thửa đất. Hơn 626.000 thửa đất đã được xác thực, đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, hơn 1 triệu thửa đất đã được UBND cấp xã làm giàu, làm sạch dữ liệu, sẵn sàng tích hợp vào Hệ thống thông tin đất đai của tỉnh và Hệ thống thông tin đất đai Quốc gia.
Đằng sau hơn một triệu thửa đất được bổ sung, làm sạch là khối lượng công việc rất cụ thể ở cơ sở. Mỗi thửa đất phải gắn với thông tin về chủ sử dụng, vị trí, diện tích, hồ sơ pháp lý và nhiều trường dữ liệu khác. Có những khu vực dân cư đông đúc với số lượng thửa đất rất lớn; có địa bàn hồ sơ được hình thành qua nhiều thời kỳ, biến động liên tục. Vì vậy, việc rà soát không thể chỉ dựa trên dữ liệu có sẵn mà nhiều trường hợp phải đối chiếu hồ sơ giấy, xác minh thông tin người sử dụng đất và cập nhật những biến động chưa được phản ánh đầy đủ.

Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên hoàn thành các nhiệm vụ số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu sau 70 ngày, sớm hơn 30 ngày so với tiến độ Chiến dịch.
Một điểm mới trong quá trình triển khai là việc ứng dụng công nghệ thông tin, trong đó có trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ xử lý một số khâu, giảm thời gian thực hiện. Đây là hướng đi cần thiết bởi nếu toàn bộ khối lượng dữ liệu khổng lồ đều được xử lý bằng phương pháp thủ công thì rất khó bảo đảm tiến độ trong khoảng thời gian 180 ngày.
Bên cạnh những kết quả tích cực, chiến dịch cũng cho thấy sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương. Đã có 46 địa phương đạt hoặc vượt tiến độ. Đây là những đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch từ sớm, huy động tốt lực lượng hỗ trợ và duy trì kiểm tra hằng ngày.
Tuy nhiên, vẫn còn 46 xã, phường có tiến độ thấp hơn yêu cầu, trong đó một số địa phương còn nhiều khối lượng phải hoàn thành trong thời gian còn lại của chiến dịch. Đây cũng là một trong những vấn đề khó nhất của chiến dịch. Khối lượng và mức độ phức tạp của dữ liệu ở từng địa bàn rất khác nhau. Những phường trung tâm có mật độ dân cư cao, số lượng thửa đất lớn, biến động nhiều sẽ phải xử lý khối lượng hồ sơ khác với những địa bàn ít biến động.
KẾT QUẢTHỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỐ 132/KH-UBND
113/113 cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn thành 100% mục tiêu số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ từ năm 2015 trở về trước.
1.592 mét tài liệu có tần suất sử dụng cao được lựa chọn và số hóa hoàn chỉnh, tương đương 8.5 triệu trang A4.
117.608 hồ sơ điện tử được lập, cập nhật theo Danh mục hồ sơ trên Hệ thống quản lý văn bản; 104.971 hồ sơ đã cập nhật văn bản, tài liệu điện tử.
30.889 mét tài liệu giấy sau sắp xếp tổ chức bộ máy đã được phân loại, sắp xếp, chỉnh lý, đạt 100%.
Trung tâm dữ liệu tỉnh đã tích hợp 54 cơ sở dữ liệu, trong đó 29 cơ sở dữ liệu kết nối tự động qua API; đang triển khai 10 kịch bản điều hành.
Nhân lực cũng là bài toán cần tính đến. Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ cấp xã đồng thời phải giải quyết nhiều nhiệm vụ thường xuyên trong khi khối lượng rà soát đất đai phát sinh rất lớn. Hạ tầng công nghệ, thiết bị và năng lực xử lý dữ liệu tại một số địa phương chưa đồng đều. Bởi vậy, cách xử lý phù hợp phải tập trung đúng vào từng điểm nghẽn. Những địa phương có khối lượng lớn cần được tăng cường nhân lực; những nơi vướng nghiệp vụ cần cán bộ chuyên môn trực tiếp hỗ trợ; những lỗi có tính hệ thống cần được xử lý bằng giải pháp công nghệ thay vì để từng xã, phường tự tháo gỡ.
Ông Kiều Quang Khánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Khối lượng công việc còn lại vẫn rất lớn, trong khi tiến độ giữa các địa phương chưa đồng đều. Sở sẽ tiếp tục huy động lực lượng chuyên môn hỗ trợ trực tiếp các địa phương còn khó khăn, thường xuyên rà soát và tháo gỡ vướng mắc; đồng thời tăng cường kiểm tra, đôn đốc những đơn vị tiến độ chậm. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành cơ bản cơ sở dữ liệu đất đai của tỉnh trước ngày 2/10/2026.
Để dữ liệu thực sự “sống”
Đích đến của hai chiến dịch là xây dựng nguồn dữ liệu được chuẩn hóa, có thể kết nối, chia sẻ và khai thác thường xuyên, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Đến nay, Trung tâm dữ liệu tỉnh đã tích hợp 54 cơ sở dữ liệu, trong đó 29 cơ sở dữ liệu được kết nối tự động qua API; 10 kịch bản điều hành đang được triển khai. Dữ liệu thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội, y tế, giáo dục, nông nghiệp và môi trường, dịch vụ công... đang từng bước được đưa về kho dữ liệu dùng chung để phục vụ tổng hợp, phân tích và điều hành. Đây là bước chuyển quan trọng từ số hóa tài liệu sang quản trị bằng dữ liệu.
Khi hồ sơ đất đai được chuẩn hóa và kết nối với dữ liệu dân cư, việc đối chiếu thông tin được thực hiện nhanh hơn. Khi tài liệu lưu trữ được số hóa, cán bộ có thể tìm kiếm, khai thác hồ sơ thuận tiện hơn thay vì mất nhiều thời gian tra cứu trong kho giấy. Xa hơn, khi các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có khả năng kết nối, chia sẻ, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm việc phải cung cấp lại những thông tin Nhà nước đã có.
Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có giá trị khi được cập nhật thường xuyên và duy trì độ chính xác. Đất đai luôn biến động, hồ sơ hành chính được tạo lập mỗi ngày, dữ liệu chuyên ngành liên tục phát sinh. Vì vậy, sau khi hoàn thành các chiến dịch, yêu cầu đặt ra là duy trì quy trình cập nhật, bổ sung và làm sạch để dữ liệu luôn “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”.
Từ hàng triệu trang hồ sơ giấy đến hệ thống dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác, Thái Nguyên đang từng bước chuyển nguồn tài nguyên dữ liệu tích lũy qua nhiều năm thành nền tảng phục vụ quản trị. Hai chiến dịch là bước khởi đầu cho quá trình xây dựng dữ liệu đồng bộ, chính xác và có khả năng cập nhật lâu dài, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số của tỉnh.
KẾT QUẢ SAU 4 THÁNG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH số 133/KH-UBND:
Toàn tỉnh có 2,3 triệu thửa đất cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, gồm khoảng 719 nghìn thửa cấp tỉnh và 1,6 triệu thửa cấp xã thực hiện.
766.170 thửa đất đã được bổ sung đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”.
2.328.854/3.987.182 thửa thuộc Nhóm 1, đạt 58,3% tổng số thửa.
1.093.783 thửa đất đã được cấp xã tổ chức làm giàu, làm sạch; trong đó 661.939 thửa đã tích hợp vào hệ thống thông tin đất đai của tỉnh.
626.844/978.328 thửa đất đã xác thực, đối khớp thông tin chủ sử dụng đất với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.












