Kiến tạo phát triển gắn với bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh
Thẩm tra dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thống nhất trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua 2 dự án Luật tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải chủ trì phiên họp
Chiều 2/10, tiếp tục Phiên họp toàn thể lần thứ Năm, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm tra dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải chủ trì phiên họp.
Tham dự có: Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; thành viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban; đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải phát biểu tại phiên họp
Khai thác, sử dụng không gian biển gắn với bảo vệ môi trường
Về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, đây là dự án Luật có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan trực tiếp đến quản lý, khai thác, sử dụng không gian biển, tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế biển, đồng thời gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

Toàn cảnh phiên họp
Dự thảo Luật cũng bổ sung nhiều chế định mới, có tác động trực tiếp đến quyền tài sản, môi trường đầu tư, ngân sách nhà nước và quan hệ giữa quản lý tổng hợp với quản lý chuyên ngành.
Về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển, dự thảo Luật đưa ra nhiều công cụ mới như ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; Quỹ không gian biển; cơ chế chia sẻ rủi ro và các hình thức hỗ trợ phát triển hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu
Qua thảo luận, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và tạo chuyển biến căn bản về bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; kiến tạo phát triển, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Vương Quốc Thắng phát biểu tại phiên họp
Các đại biểu cũng tán thành việc mở rộng thêm nội dung quản lý sử dụng không gian biển. Bên cạnh đó, đề nghị bổ sung nội dung về cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển và thể chế hóa Nghị quyết 20/NQ/TW vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật (tại khoản 1 Điều 1).

ĐBQH hoạt động chuyên trách Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Văn An phát biểu

ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Ngọc Sơn phát biểu
Quy định rõ cơ chế cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu địa phương

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi phát biểu
Thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhất trí cao với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Các ý kiến thảo luận đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ tính đồng bộ giữa mục tiêu cắt giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường nêu tại Tờ trình với các tiêu chí còn mang tính nguyên tắc tại Điều 30, Điều 39 và dự thảo Nghị định; phân tích sâu hơn nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng tại một số lưu vực sông, đô thị lớn. Bổ sung số liệu định lượng về chi phí tuân thủ được tiết kiệm và năng lực quản lý thực tế của cấp tỉnh, cấp xã khi phân cấp; sớm hoàn thiện Bản so sánh và dự thảo văn bản hợp nhất phục vụ đại biểu Quốc hội.
Các đại biểu cũng đánh giá cao bước cải cách đột phá, tuy nhiên việc chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” chỉ hiệu quả khi có cơ chế giám sát chặt chẽ từ Trung ương. Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị quy định rõ cơ chế cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu địa phương khi để xảy ra sự cố ô nhiễm nghiêm trọng; bổ sung tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 41 tiêu chí “phạm vi tác động liên tỉnh, xuyên biên giới” để xác định thẩm quyền, tránh tình trạng địa phương hóa tiêu chuẩn môi trường.

Phó trưởng Đoàn chuyên trách ĐBQH tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Huy phát biểu
Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Huy đánh giá cao việc cập nhật kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong dự thảo Luật. Nhắc đến Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị làm rõ cơ chế bảo đảm nguồn lực thực tế hoặc nghiên cứu luật hóa mức sàn 2% này.

Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk Lê Đào An Xuân phát biểu
Các ý kiến tán thành với quy định giao địa phương quyết định cách thức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và đề nghị phải đảm bảo tính đồng bộ trên toàn chuỗi (từ phân loại tại nguồn đến thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý…). Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk Lê Đào An Xuân đề nghị, bổ sung trách nhiệm của UBND cấp tỉnh về hạ tầng, phương tiện. Đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị, cần đánh giá hiệu quả phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn dựa trên tỷ lệ chất thải thực sự được tái chế, thu hồi chứ không chỉ theo tỷ lệ hộ dân thực hiện.
