Kiến tạo thể chế, mở dòng vốn mới cho Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng
Việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng không chỉ là xây dựng thêm một thiết chế tài chính, mà còn hướng đến việc kiến tạo những thể chế nhằm tạo lập những kênh dẫn vốn mới, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới và gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Nhu cầu cấp thiết cần mở thêm kênh huy động vốn
Ngày 30/6, tại Đà Nẵng, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP Đà Nẵng và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam đã tổ chức hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới” để làm rõ các vấn đề trên.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030. Với Đà Nẵng, thành phố cũng được giao mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026. Những mục tiêu đầy tham vọng đó đặt ra bài toán lớn về huy động nguồn lực, nhất là khi dư địa của các kênh vốn truyền thống đang ngày càng thu hẹp.

Hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới” do Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP Đà Nẵng và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam tổ chức.
Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, tổng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 8,3-8,5 triệu tỷ đồng; phần còn lại cần được huy động từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc tế và thị trường vốn.
Riêng nhu cầu huy động từ doanh nghiệp, thị trường vốn, tín dụng và vay nước ngoài được ước tính vào khoảng 20,4 triệu tỷ đồng. Đây là áp lực rất lớn đối với hệ thống tài chính, đặc biệt là các tổ chức tín dụng.
“Hệ thống ngân hàng phải tính toán làm sao vừa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng tín dụng phục vụ phát triển kinh tế, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Đây là bài toán không hề đơn giản”, TS Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh.

TS Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại hội thảo.
Từ thực tế đó, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam, được nhìn nhận không đơn thuần là mở rộng không gian hoạt động của các định chế tài chính. Quan trọng hơn, đây là yêu cầu tạo dựng các phương thức dẫn vốn mới, đa dạng hơn và có khả năng kết nối sâu hơn với các dòng vốn quốc tế.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, trong điều kiện các kênh huy động vốn truyền thống ngày càng bị giới hạn, Trung tâm Tài chính quốc tế phải được định vị là một giải pháp quan trọng để tạo lập các kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế. Đồng thời là nơi thử nghiệm mô hình quản trị, sản phẩm tài chính và công nghệ tài chính mới.
Thể chế phải đi trước để dòng vốn đi sau
Từ góc nhìn của các chuyên gia tham gia Hội thảo, thể chế không chỉ là điều kiện ban đầu mà là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng.
TS Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, cho rằng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng không chỉ là dự án trọng điểm của thành phố mà còn là một mắt xích chiến lược trong mục tiêu phát triển của đất nước. Theo ông, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các trung tâm tài chính như Singapore, Dubai hay Luxembourg không hình thành chỉ nhờ vị trí địa lý hay nguồn vốn, mà bởi thể chế đi trước để dòng vốn đi sau.

Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng không chỉ là dự án trọng điểm của thành phố mà còn là một mắt xích chiến lược trong mục tiêu phát triển của đất nước.
Thể chế ở đây không đơn thuần là hệ thống luật pháp, mà phải bao gồm tính minh bạch trong quản trị, cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy và môi trường pháp lý đủ linh hoạt để đón nhận các mô hình kinh doanh mới, từ tài chính số, tài sản mã hóa đến tài chính xanh và thương mại xuyên biên giới.
“Đây là những câu hỏi mà hội thảo hôm nay đặt ra. Không phải những câu hỏi dễ - nhưng là những câu hỏi đúng”, TS Lê Minh Nghĩa nói khi đề cập đến yêu cầu xác định cơ chế đặc thù, sản phẩm ưu tiên và phương thức để Đà Nẵng trở thành cửa ngõ thu hút các dòng vốn thế hệ mới.
Từ thực tiễn địa phương, ông Trần Chí Cường - Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho biết thành phố xác định định hướng phát triển VIFC-DN theo mô hình hiện đại, chủ động tiếp cận sớm các phân khúc tài chính mới. Trong đó, Đà Nẵng hướng tới thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp, quỹ đầu tư quốc tế, phát triển nhà đầu tư tổ chức, giao dịch tín chỉ carbon, mã hóa tài sản thực cùng các sản phẩm tài chính hiện đại phù hợp thông lệ quốc tế.

Ông Trần Chí Cường - Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho biết thành phố xác định định hướng phát triển VIFC-DN theo mô hình hiện đại, chủ động tiếp cận sớm các phân khúc tài chính mới.
“Ưu tiên hàng đầu của Đà Nẵng hiện nay là khơi thông dòng vốn quốc tế luân chuyển thông qua Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng vào nền kinh tế, phát triển các dự án hạ tầng, dự án quy mô vốn lớn của cả khu vực tư nhân và khu vực công”, ông Trần Chí Cường nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng, khung pháp lý ban đầu cho Trung tâm Tài chính quốc tế đã được định hình, song vẫn cần tiếp tục nhận diện các khoảng trống để bổ sung, hoàn thiện. Điều thành phố cần không chỉ là cơ chế ưu đãi, mà là một môi trường đủ rõ ràng và có khả năng dự báo để nhà đầu tư yên tâm tham gia dài hạn.
PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế là cơ hội để Việt Nam bước vào một “cuộc chơi khác thường”, trong đó cạnh tranh không còn dựa chủ yếu vào các lợi thế truyền thống mà bằng năng lực đổi mới, sự khác biệt và chất lượng thể chế.
“Điều chúng ta cần không phải là thêm một vài cơ chế ưu đãi hay những chính sách xin - cho. Cái cần là thay đổi chính chân dung phát triển của mình để có thể bay lên”, ông nói.

PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế là cơ hội để Việt Nam bước vào một “cuộc chơi khác thường”.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, VIFC không phải là một công trình đơn lẻ, mà phải là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, vận hành theo chuẩn mực quốc tế. Với Đà Nẵng, yêu cầu cấp thiết là thiết kế cơ chế đủ mới, đủ linh hoạt và trao quyền chủ động cần thiết để giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả vận hành và tạo năng lực cạnh tranh thực chất.
“Điều hấp dẫn nhà đầu tư không chỉ là ưu đãi, mà chính là niềm tin vào thể chế”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Từ sandbox đến các sản phẩm tài chính mới
Một nội dung được đặt ra tại hội thảo là xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (hay còn gọi là sandbox) cho các sản phẩm tài chính mới. TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng nếu trước đây đổi mới sáng tạo chủ yếu được tiếp cận theo hướng thử nghiệm có kiểm soát, thì trong thời gian tới cần coi đây là một phương thức phát triển mới, đòi hỏi tư duy mạnh dạn hơn trong hoàn thiện thể chế và pháp luật.
“Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn phải là nơi thử nghiệm các mô hình quản trị mới, sản phẩm tài chính mới và công nghệ tài chính mới. Nếu không có cơ chế thử nghiệm đủ linh hoạt thì sẽ rất khó tạo ra sức cạnh tranh”, TS Nguyễn Đức Hiển nói.
Tuy nhiên, sandbox phải giải được bài toán cân bằng giữa khuyến khích đổi mới với kiểm soát rủi ro hệ thống. Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý đối với tài sản số, fintech, dữ liệu tài chính, dòng vốn xuyên biên giới và ngoại hối.

Ông Kevin Bruce Iwanaga - Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành VIFC-DN, nhận định Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bản lề.
Đại diện Cơ quan điều hành VIFC-DN, ông Kevin Bruce Iwanaga cho biết Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng dự kiến tập trung vào 5 nhóm sản phẩm ưu tiên: token hóa tài sản thực; tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon; sàn giao dịch hàng hóa; quỹ đầu tư và quản lý tài sản; thị trường trái phiếu.
Theo ông, đây không phải năm sản phẩm riêng lẻ, mà là các trụ cột hỗ trợ lẫn nhau trong một hệ sinh thái huy động vốn hiện đại. Trong đó, token hóa tài sản thực có thể tăng khả năng huy động vốn từ dự án hạ tầng và các tài sản thực; tín chỉ carbon mở ra khả năng thu hút vốn khí hậu; sàn giao dịch hàng hóa hỗ trợ doanh nghiệp quản trị rủi ro và tiếp cận vốn; quỹ đầu tư, quản lý tài sản và thị trường trái phiếu có thể bổ sung nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, cho rằng quá trình xây dựng mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam đã bước vào giai đoạn bản lề: từ ý tưởng đã chuyển sang hình hài thể chế và bắt đầu đi vào thực thi.
“Điều quan trọng nhất bây giờ không còn là chúng ta đã có gì, mà là sắp tới sẽ làm gì và làm như thế nào”, TS Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Theo ông, những vướng mắc hiện nay tập trung ở hai trục chính: khả năng triển khai thực chất các hoạt động của Trung tâm Tài chính quốc tế và sự phối hợp, phân quyền giữa Trung ương với địa phương. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với tốc độ cũng như hiệu quả triển khai VIFC trong giai đoạn tới.

TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh phát biểu tại hội thảo.
TS Võ Trí Thành đặc biệt lưu ý rằng, khi bàn về thể chế vượt trội, cần bắt đầu từ góc nhìn của nhà đầu tư và thị trường. “Khi nhìn vào sự vượt trội, chúng ta nhìn vào tất cả mọi thứ nhưng lại quên mất một điều quan trọng nhất: phải bắt đầu từ nhà đầu tư và thị trường”, ông nói.
Từ góc độ này, sandbox không chỉ là không gian thử nghiệm công nghệ hoặc sản phẩm mới, mà phải là cơ chế giúp giảm bất định chính sách, tạo khả năng dự báo và điều kiện vận hành thực chất cho nhà đầu tư. Theo TS Võ Trí Thành, Việt Nam không nhất thiết phải đi theo cách tiếp cận tiên phong như Singapore, nhưng không thể tiếp tục chọn cách tiếp cận quá rụt rè, chờ đợi kinh nghiệm hoàn chỉnh từ các thị trường khác.
“Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam chưa dám nói là sẽ tiên phong như Singapore nhưng chắc chắn chúng ta phải cố gắng ít nhất là ở mức giữa, tức cách tiếp cận thứ hai”, ông Thành nhận định.
Những lo ngại về quy mô thị trường, độ đa dạng của sản phẩm và nhất là sự bất định chính sách đang ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Đây cũng là lý do việc thiết kế sandbox cần bảo đảm tính rõ ràng, khả năng thực thi và sự thống nhất trong phối hợp giữa Trung ương với địa phương.

Các chuyên gia đều nhận định, Đà Nẵng là nơi thuận lợi để phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế.
Đối với Đà Nẵng, cơ hội mở ra là rất lớn. Nhưng để các sản phẩm như token hóa tài sản thực, tín chỉ carbon, quỹ đầu tư, quản lý tài sản và thị trường trái phiếu vận hành hiệu quả, thành phố cần có một hành lang pháp lý minh bạch, cơ chế điều hành đủ thẩm quyền, hệ thống giám sát phù hợp và quy trình triển khai có thể dự báo.
Khi thể chế tạo được niềm tin, khi sandbox trở thành công cụ thử nghiệm thực chất và khi sản phẩm tài chính được gắn với nhu cầu của thị trường, Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng mới có thể trở thành cánh cửa đưa dòng vốn quốc tế vào các dự án hạ tầng, chuyển đổi xanh, công nghệ, thương mại và khu vực doanh nghiệp của Việt Nam.












