Kim loại quý, lúa mì kéo MXV-Index đảo chiều

Lực bán tại nhóm kim loại quý và lúa mì gia tăng, kéo MXV-Index giảm 0,3% xuống 2.860 điểm.

Chỉ số MXV-Index giảm 0,3% xuống 2.860 điểm. Nguồn: MXV

Chỉ số MXV-Index giảm 0,3% xuống 2.860 điểm. Nguồn: MXV

Thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới chịu sức ép mạnh khi lực bán gia tăng tại nhóm nông sản và kim loại. Diễn biến này kéo MXV-Index giảm 0,3%, xuống 2.860 điểm.

Giá kim loại quý đồng loạt giảm mạnh khi lợi suất trái phiếu chính phủ dài hạn tại nhiều nền kinh tế lớn tăng lên mức cao nhất trong nhiều năm.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 30 năm vượt 5,33%, cao nhất trong 19 năm, trước khi hạ về quanh 5,3%. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Nhật Bản chạm đỉnh 30 năm, trong khi lợi suất trái phiếu kỳ hạn 30 năm của Đức cao nhất kể từ năm 2011. Tại Anh và Pháp, lợi suất dài hạn cũng đồng loạt thiết lập các mức cao nhất trong nhiều năm.

Trong khi đó, nguồn cung kim loại quý có nguy cơ thiếu hụt năm thứ 6 liên tiếp, với mức thiếu hụt ước tính 46-50 triệu ounce.

Diễn biến giá bạc kỳ hạn tháng 9. Nguồn: MXV

Diễn biến giá bạc kỳ hạn tháng 9. Nguồn: MXV

Lợi suất tăng làm chi phí cơ hội nắm giữ kim loại quý lớn hơn. Giá bạc giao tháng 9 giảm 3,3%, xuống 64 USD/ounce; bạch kim giao tháng 10 giảm hơn 3%, xuống 1.733,8 USD/ounce.

Tuy nhiên, triển vọng trung và dài hạn của bạc vẫn đáng chú ý khi nhu cầu công nghiệp tăng, đặc biệt trong sản xuất pin năng lượng mặt trời, các trung tâm dữ liệu phục vụ AI, y tế và công nghệ cao.

Giá lúa mì Chicago giảm 1,5%, xuống 244,1 USD/tấn; lúa mì Kansas giảm gần 2%, xuống 273,2 USD/tấn. Nhóm lúa mì chiếm khoảng 21% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường tại MXV.

Theo MXV, nguồn cung giá rẻ từ Biển Đen tiếp tục gây sức ép lên lúa mì Mỹ. Giá lúa mì Nga loại 12,5% protein giao FOB tại Novorossiysk dao động 218-222 USD/tấn, thấp hơn 35-45 USD/tấn so với lúa mì Mỹ và Pháp.

Nguồn cung Mỹ cũng tích cực khi hơn 95% diện tích lúa mì vụ xuân đã thu hoạch. Các điều kiện thuận lợi giúp triển vọng vụ đông niên vụ 2026-2027 tích cực hơn, qua đó làm giảm phần bù rủi ro thời tiết trong giá kỳ hạn.

Trên CBOT, các quỹ quản lý tiền tệ tăng thêm 5.820 hợp đồng bán ròng, nâng vị thế bán ròng lên 88.640 hợp đồng. Đồng USD duy trì trên 99 điểm cũng làm giảm sức cạnh tranh của lúa mì Mỹ.

Nhập khẩu lúa mì đến tháng 7-2026 của Việt Nam. Nguồn: MXV

Nhập khẩu lúa mì đến tháng 7-2026 của Việt Nam. Nguồn: MXV

Trái với diễn biến trên thị trường kỳ hạn quốc tế, giá lúa mì chào bán tại thị trường nội địa vẫn tương đối ổn định. Tại miền Bắc, giá lúa mì giao ngay tại cảng Cái Lân tăng nhẹ, lên 7.800 - 7.900 đồng/kg. Tại miền Nam, giá chào bán lúa mì mạn tàu tại cảng Phú Mỹ giữ ở mức 7.700 đồng/kg. Giao dịch chủ yếu vẫn là các hợp đồng đã ký trước đó, trong khi nhu cầu mua mới khá thận trọng.

Lam Giang

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/kim-loai-quy-lua-mi-keo-mxv-index-dao-chieu-1217150.html