Kinh doanh tài sản mã hóa thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 32/2026/TT-BTC, hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 27/3/2026.
Tại Điều 3 Thông tư hướng dẫn về chính sách thuế giá trị gia tăng quy định, việc chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Đối với các hoạt động không quy định tại khoản 1 Điều này, thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, Điều 4 Thông tư hướng dẫn nhà đầu tư là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 20%, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.

Tính đến giữa năm 2025, thị trường tài sản mã hóa toàn cầu đã vượt mốc 2.000 tỷ USD - Ảnh minh họa: KT
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa trong kỳ, được xác định bằng giá bán tài sản mã hóa trừ đi giá mua của tài sản mã hóa chuyển nhượng, và các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng có hóa đơn, chứng từ theo quy định.
Doanh nghiệp là tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, có thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 20%, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Nhà đầu tư là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài, có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.
Đối với chính sách thuế thu nhập cá nhân, Thông tư hướng dẫn, nhà đầu tư là cá nhân (không phân biệt cá nhân cư trú hay không cư trú) có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa, qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần.
Về thời điểm xác định doanh thu, thu nhập đối với chuyển nhượng tài sản mã hóa, thực hiện như quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân về thời điểm xác định doanh thu, thu nhập đối với chuyển nhượng chứng khoán và pháp luật về tài sản mã hóa.












