Kinh nghiệm quốc tế cho phát triển kinh tế tuần hoàn của Việt Nam

Một tấm lưới đánh cá hư hỏng, chiếc áo không còn được sử dụng hay chất thải từ công trình xây dựng đều có thể trở thành nguồn vật liệu cho chu trình sản xuất mới.

Tuy nhiên, để biến khả năng ấy thành hiện thực cần có hệ thống thu gom, phân loại, công nghệ xử lý và thị trường tiêu thụ.

Tại Hội nghị bàn tròn châu Á - Thái Bình Dương về sản xuất và tiêu dùng bền vững lần thứ 18 (bên lề Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026) các chuyên gia khuyến nghị, Việt Nam cần kết nối chính sách với doanh nghiệp, tài chính và dữ liệu, đồng thời lựa chọn những mô hình phù hợp để thí điểm trước khi nhân rộng.

Tạo "đường đi" cho vật liệu sau sử dụng

Đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế - Phiên họp Thường niên lần thứ 18 APRSCP: Kết nối Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế - Phiên họp Thường niên lần thứ 18 APRSCP: Kết nối Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Theo ông Chia-Hsiang Wang, đại diện Công ty E-titannium Internationail (Đài Loan-Trung Quốc), một thay đổi quan trọng trong phát triển kinh tế tuần hoàn là chuyển tư duy từ quản lý chất thải sang quản lý dòng vật liệu. Trong 12 chiến lược hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Đài Loan (Trung Quốc) xác định tái chế tài nguyên và không rác thải là một trọng tâm. Hai luật được cập nhật để tác động vào cả đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, tiêu dùng.

Ông Wang cho biết: Luật Thúc đẩy Tuần hoàn Tài nguyên của Đài Loan (Trung Quốc) khuyến khích thiết kế sinh thái, giảm sử dụng vật liệu từ đầu, kéo dài thời gian sử dụng và sửa chữa sản phẩm. Các công cụ như nhãn tuần hoàn, hộ chiếu số giúp cung cấp thông tin phục vụ sửa chữa, tái chế. Chính quyền dẫn dắt nhu cầu thông qua mua sắm xanh; cơ chế thử nghiệm cho phép doanh nghiệp kiểm chứng mô hình kinh doanh mới. Ở khâu cuối, Luật Xử lý Rác thải tăng cường giám sát việc thu gom, tái chế và xử lý, trong đó có ứng dụng AI nhận diện hình ảnh và GPS để theo dõi dòng chất thải.

Việc tạo đầu ra cho vật liệu tái chế cũng được chú trọng. Theo ông Wang, một số loại bao bì nhựa phải chứa tỷ lệ tối thiểu vật liệu tái chế; các dự án xây dựng lớn được yêu cầu sử dụng cốt liệu tái chế. Những quy định này góp phần hình thành nhu cầu ổn định, giúp doanh nghiệp có cơ sở đầu tư vào khâu thu hồi và chế biến.

Trong hệ thống trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), hộ gia đình phân loại rác, đội vệ sinh địa phương thu gom, doanh nghiệp tư nhân tái chế, còn quỹ tái chế hỗ trợ chi phí vận hành. Ông Wang cho biết hệ thống hiện bao phủ 36 loại thuộc 9 nhóm vật liệu có thể tái chế. Bên cạnh việc phân loại rác tại hộ gia đình, máy thu gom tự động được sử dụng để khuyến khích người dân giao nộp chai nhựa PET, pin và nhận lại tiền thưởng. Cách tổ chức này cho thấy vật liệu sau sử dụng chỉ có thể quay lại sản xuất khi từng khâu trong chuỗi cùng hoạt động.

Bài toán ấy thể hiện rõ hơn đối với rác thải biển. Ông Zhi-Jia Li (Hội đồng Các vấn đề Đại dương - Đài Loan) cho biết: Với rác thông thường ở độ sâu dưới 15m, địa phương phối hợp các tàu cá tình nguyện và khoảng 6.200 thợ lặn tình nguyện xử lý. Rác có kích thước lớn hơn, nằm ở vùng nước sâu hơn được giao cho các trạm dọn dẹp và đơn vị hàng hải chuyên nghiệp.

Đối với lưới đánh cá hư hỏng, ngư dân làm sạch sơ bộ, tháo các bộ phận đi kèm và phân loại theo vật liệu trước khi đưa đến điểm tập kết. Doanh nghiệp tái chế tiếp tục đánh giá khả năng sử dụng, lưới đạt yêu cầu mới được chuyển đến nhà máy. Theo ông Li, phần lớn lưới vớt từ đáy biển hiện không đáp ứng tiêu chí tái chế và phải xử lý bằng phương pháp khác. Thực tế này chỉ ra một giới hạn của kinh tế tuần hoàn, thu gom được chất thải chưa đồng nghĩa với thu hồi được tài nguyên.

Kết nối công nghệ với thị trường và nguồn vốn

Bà Akiko Yamamoto, Trưởng nhóm khu vực châu Á - Thái Bình Dương về Năng lượng và Môi trường, phát biểu tại chương trình. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Bà Akiko Yamamoto, Trưởng nhóm khu vực châu Á - Thái Bình Dương về Năng lượng và Môi trường, phát biểu tại chương trình. Ảnh: Trung Tuyến - TTXVN

Trong ngành dệt may, Giáo sư Toru Sasaki, Đại học Chuo (Nhật Bản), nêu một nghịch lý: Quần áo được sản xuất và thải bỏ ngày càng nhiều, nhưng chưa đến 1% được tái chế trở lại thành quần áo theo chu trình khép kín; gần 73% được đưa đến bãi chôn lấp hoặc lò đốt. Theo Giáo sư, sự phát triển của thời trang nhanh khiến mức tiêu dùng, lượng rác và phát thải cùng tăng, đặt ra yêu cầu thay đổi mô hình sản xuất tuyến tính.

Giáo sư Sasaki đề cập hướng tái chế từ sợi dệt thành sợi dệt và nền tảng hạ tầng tuần hoàn của Ekotech tại Nhật Bản. Nền tảng này thu thập dữ liệu truy xuất trong chuỗi cung ứng, đồng thời kết nối trung tâm thương mại, nhà bán lẻ, thương mại điện tử, đơn vị phát triển bất động sản và chính quyền địa phương. Theo số liệu ông đưa ra, lượng vật liệu được thu thập đạt khoảng 70.000 tấn mỗi năm. Từ trường hợp này, Giáo sư Sasaki nhấn mạnh vai trò của dữ liệu và sự hợp tác giữa các bên trong việc đưa vật liệu đã qua sử dụng trở lại thị trường.

Trao đổi về điều kiện chuyển đổi tại Việt Nam, Giáo sư So Sasaki cho rằng cần một đầu mối thúc đẩy, kết nối các lĩnh vực vốn vận hành tách rời. Bên cạnh đó, các bên phải thống nhất cách hiểu và sử dụng dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Khó khăn về chi phí cũng cần được giải quyết trong quan hệ giữa nhà sản xuất, đơn vị thu gom và doanh nghiệp tái chế, trên cơ sở cùng chia sẻ giá trị tạo ra từ chuỗi tuần hoàn.

“So với một số nước ASEAN, Việt Nam đã có bước tiến về chính sách trong triển khai trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Tuy nhiên, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức để cơ chế này phát huy hiệu quả”, Giáo sư So Sasaki nhấn mạnh.

Tiến sĩ Yosuke Konaka, Phụ trách Kinh tế tuần hoàn, Ngân hàng Sumitomo Mitsui Trust - Nhật Bản nhìn nhận, khó khăn lớn của kinh tế tuần hoàn là phải đưa những đối tác mới vào cùng một dự án. Doanh nghiệp công nghệ, nhà sản xuất, tổ chức tài chính và cơ quan quản lý có tốc độ triển khai, lợi ích và cách đánh giá rủi ro khác nhau. Đặc biệt, công nghệ mới thường chưa có lịch sử hoạt động để chứng minh hiệu quả, khiến nhà đầu tư khó quyết định cấp vốn. Theo ông, định hướng chính sách rõ ràng có thể tạo điều kiện để dự án hình thành và thu hút tài chính. Vì vậy, sự phối hợp cần bắt đầu từ cấp chính sách, doanh nghiệp đến nguồn vốn.

Một ví dụ về cách tập hợp các bên là mô hình Saraburi sandbox tại Thái Lan. Ông Nuttavut Intarode, đại diện Tập đoàn SCG cho biết, bảy nhà sản xuất xi măng đã phối hợp xây dựng lộ trình giảm phát thải cho ngành, sau đó cùng chính quyền tỉnh Saraburi hình thành khu vực thử nghiệm. Lộ trình của ngành được kết nối với mục tiêu quốc gia và địa phương; dự án nhận 8 triệu đô Canada từ Chính phủ Canada thông qua Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc để hỗ trợ các hoạt động giảm phát thải.

Saraburi sandbox thử nghiệm các giải pháp trong chuyển dịch năng lượng, quy trình công nghiệp, xử lý chất thải, nông nghiệp và phát triển không gian xanh. Theo ông Intarode, quá trình này đồng thời xem xét những vướng mắc về chính sách, khả năng huy động tài chính xanh, công nghệ và phương thức quản trị. Với ngành xi măng khó giảm phát thải, việc tiếp cận điện xanh và thử nghiệm công nghệ thu gom carbon cần sự tham gia, hỗ trợ của Nhà nước.

Từ góc nhìn Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, phát triển kinh tế tuần hoàn cần sự kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà khoa học. Kinh nghiệm quốc tế, từ chính sách quốc gia đến thực tiễn doanh nghiệp, có thể góp phần hình thành những đề xuất và dự án phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Hồng Quân, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi kép có tính liên ngành cao, đòi hỏi ưu tiên tháo gỡ vướng mắc về thể chế, chính sách và cơ chế phối hợp. Kinh nghiệm về mô hình thử nghiệm sandbox tại Thái Lan gợi mở khả năng lựa chọn những địa bàn, lĩnh vực phù hợp để thí điểm, huy động nguồn lực thông qua hợp tác công - tư và các đối tác quốc tế. Từ kết quả thực hiện, Việt Nam có thể rút kinh nghiệm, tiếp tục cải tiến và mở rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn trong nước.

Từ các trường hợp quốc tế, con đường đưa rác thải trở lại thành tài nguyên bắt đầu bằng thiết kế sản phẩm, đi qua thu gom, phân loại, truy xuất và tái chế, cuối cùng phải có thị trường sử dụng vật liệu thu hồi. Mỗi mắt xích cần một chủ thể chịu trách nhiệm và một cơ chế để các bên cùng tham gia, chia sẻ chi phí, lợi ích.

Hữu Duyên – Huỳnh Sơn/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/kinh-nghiem-quoc-te-cho-phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-cua-viet-nam/442010.html