Kinh phí nuôi dưỡng trẻ từ 4 tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội là 2,16 triệu đồng
Kinh phí nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên tại các cơ sở trợ giúp xã hội được hỗ trợ ở mức 2,16 triệu đồng/người/tháng từ ngày 5/10/2026
Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP, từ ngày 5/10/2026, mức kinh phí hỗ trợ cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên là 2.160.000 đồng/người/tháng.
Đối tượng nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội?
Các cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và những trường hợp cần được bảo vệ khẩn cấp.
Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:
+) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
+) Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;
+) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
+) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+) Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
+) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo cũng là đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng do có hoàn cảnh khó khăn hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng;
Bên cạnh đó, trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.
Những trường hợp được bảo vệ khẩn cấp
Cơ sở trợ giúp xã hội cũng tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp, gồm nạn nhân của bạo lực gia đình; người bị ngược đãi, bỏ rơi, xâm hại tình dục hoặc thân thể; nạn nhân bị mua bán, cưỡng bức lao động.

Kinh phí nuôi dưỡng trẻ từ 4 tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội là 2,16 triệu đồng. (Ảnh minh họa)
Trẻ em và người lang thang xin ăn trong thời gian chờ được đưa về nơi cư trú cũng thuộc nhóm cần bảo vệ khẩn cấp.
Ngoài các trường hợp trên, những đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp phát sinh đột xuất theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, trong phạm vi được HĐND cấp tỉnh phân cấp, cũng có thể được tiếp nhận.
Đối với các trường hợp cần bảo vệ khẩn cấp nêu trên, thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội tối đa không quá 3 tháng. Nếu hết thời hạn này mà chưa thể đưa đối tượng trở về gia đình hoặc cộng đồng, người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội sẽ xem xét, quyết định giải pháp phù hợp.
Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng và mức hỗ trợ
Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP, người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Ngoài các nhóm đối tượng được Nhà nước hỗ trợ, cơ sở trợ giúp xã hội cũng tiếp nhận đối tượng tự nguyện, gồm người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc và những người không thuộc các nhóm đối tượng được quy định tại Nghị định.
Đối với các đối tượng được Nhà nước hỗ trợ, mức trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng thấp nhất bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, nhân với hệ số tương ứng.
Cụ thể, trẻ em dưới 4 tuổi được áp dụng hệ số 5,0; tương đương 2,7 triệu đồng/tháng. Đối tượng từ đủ 4 tuổi trở lên áp dụng hệ số 4,0; tương đương 2,16 triệu đồng/tháng.
Ngoài khoản trợ cấp hằng tháng, đối tượng còn được hỗ trợ tiền ăn thêm trong các ngày lễ, Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và chế độ ăn khi ốm đau, với mức không quá 3 lần tiêu chuẩn ăn của ngày thường.
Cơ sở trợ giúp xã hội được chi cho việc mua sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt, chăn, màn, chiếu, quần áo, đồ dùng vệ sinh cá nhân; sách, vở và đồ dùng học tập đối với người đang đi học. Tổng mức chi cho các khoản này tối đa bằng 540.000 đồng x 10 lần/người/năm.
Đối với người phải điều trị tại cơ sở y tế, các chi phí điều trị, thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật và các khoản liên quan không thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế được thanh toán theo hóa đơn, chứng từ thực tế.
Bên cạnh đó, mỗi đối tượng được hỗ trợ chi phí mua thuốc thông thường, dụng cụ và phương tiện phục hồi chức năng, hướng nghiệp, hoạt động văn hóa, thể thao và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng, tối đa bằng 540.000 đồng x 20 lần/người/năm.
Chi phí điện, nước sinh hoạt, nhiên liệu chạy máy phát điện, lọc nước, vệ sinh môi trường, sửa chữa điện nước, thuê dịch vụ và các khoản chi khác được hỗ trợ tối đa bằng 540.000 đồng x 15 lần/người/năm.
Các đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Khi đối tượng qua đời, chi phí mai táng được hỗ trợ tối thiểu bằng 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, tương đương tối thiểu 27 triệu đồng theo mức chuẩn 540.000 đồng.
Chi nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, duy tu, bảo dưỡng, bảo trì cơ sở vật chất được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 104/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước.
Hỗ trợ giáo dục, đào tạo và hướng nghiệp
Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, trừ nhóm tự nguyện, được hưởng chính sách hỗ trợ học tập từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học văn bằng thứ nhất theo quy định.
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi nhưng vẫn đang học phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc chương trình đại học văn bằng thứ nhất và quá trình học liên tục, không bị gián đoạn, thì tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội cho đến khi hoàn thành chương trình học.
Nếu không tiếp tục học, đối tượng được hỗ trợ hòa nhập cộng đồng và trở về nơi ở trước khi vào cơ sở trợ giúp xã hội. UBND cấp xã nơi người đó cư trú trước đây có trách nhiệm tiếp nhận, hỗ trợ việc làm và tạo điều kiện để ổn định cuộc sống.

