Kinh tế hồ bền vững - Bài 2: Đến hồi sinh
Hồ Biwa từ lâu được biết đến như cái nôi của những viên 'Ngọc trai Biwa', một trong những dòng ngọc nước ngọt từng làm say mê thị trường thế giới. Nét đẹp đặc trưng của chúng nằm ở ánh bóng ấm áp, sắc màu thanh nhã và những hình dạng không bao giờ trùng lặp.
Bài 2: Đến hồi sinh
Vẻ đẹp ấy đã xuất hiện trong văn chương Nhật Bản từ hơn một thiên niên kỷ trước, khi thi nhân Kakinomoto no Hitomaro viết trong tập Man’yoshu rằng “những viên ngọc trắng chìm trong biển Omi” đẹp đến mức ông thầm khát khao dù chưa từng nhìn thấy.
Khi ánh ngọc mờ đi

Ông Masakazu Saiki nhấc lên một dây thừng có khay lưới sắt đựng trai trong giai đoạn nuôi hình thành ngọc. Ảnh: Nguyễn Tuyến/TTXVN
Thế nhưng, hành trình của ngọc trai Biwa không phải lúc nào cũng lung linh. Sau thời kỳ hoàng kim vào thập niên 1980, ngành nuôi ngọc ở hồ Biwa rơi vào khủng hoảng. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, hiện tượng tảo nở hoa và sự lan rộng của loài thực vật ngoại lai Elodea canadensis đã tàn phá môi trường sống của ikechogai – loài trai đặc hữu vốn là nền tảng của nghề nuôi ngọc. Chỉ trong một thập niên, số lượng hàu mẹ giảm mạnh; hộ nuôi từ hơn 70 chỉ còn lại 6 gia đình. Ngọc trai Biwa từ một sản phẩm quốc gia đắt giá trở thành hiếm đến mức gần như biến mất khỏi thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh ấy, Công ty Saiki Sangyo, có trụ sở ở hồ phụ Nishinoko, trở thành một trong những người gìn giữ ngành nghề truyền thống này. Gia đình Saiki đã gắn bó với hồ Biwa hơn nửa thế kỷ cho dù có những lúc khó khăn. Giám đốc thế hệ thứ ba, ông Masakazu Saiki, nhớ lại rằng có thời điểm sản lượng của họ chỉ còn vài kilogram mỗi năm, nhưng vẫn không ai trong gia đình lựa chọn từ bỏ. “Dù khó khăn đến đâu, chúng tôi vẫn muốn bảo tồn kỹ thuật nuôi ngọc do cha ông truyền lại. Đó là truyền thống của Shiga, của hồ Biwa”, ông chia sẻ.

Ngọc trai của Saiki Sangyo. Ảnh: Nguyễn Tuyến/TTXVN
Ba thế hệ gia đình Saiki đã gắn bó với hồ Biwa suốt hơn 60 năm. Điều đặc biệt là đến ngày nay, doanh nghiệp này chỉ còn đúng 3 người: ông Masakazu Saiki, mẹ ông và vợ ông. Trong đó, hình ảnh người mẹ tuổi đã cao vẫn ngày ngày cặm cụi ngồi trước bàn, khéo léo cấy từng mô nhỏ hay đặt từng nhân tròn vào cơ thể trai, trở thành biểu tượng sống động nhất cho sự bền bỉ của ngành nghề đang dần biến mất này.
Công việc cấy mô đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối và đôi tay thành thạo, ổn định. Chính vì vậy, những người như mẹ ông Saiki gần như không thể được thay thế bằng máy móc. “Sản lượng của chúng tôi chỉ khoảng 5 kg mỗi năm,” ông Masakazu Saiki chia sẻ với phóng viên TTXVN, “Nhưng dù khó khăn đến đâu, chúng tôi vẫn không muốn để kỹ thuật mà cha mẹ chúng tôi gìn giữ suốt nhiều thập niên biến mất”.

Kỹ thuật viên đang thực hiện công đoạn cấy mô vào con trai để tạo ngọc. Ảnh: Nguyễn Tuyến/TTXVN
Để tạo ra một viên ngọc Biwa, người thợ phải chờ đợi hơn 6 năm. Mọi chuyện bắt đầu vào mùa Xuân khi ấu trùng trai được cá trê mang trong mang, trước khi tách ra và được nuôi trong bể đến khi trở thành trai non. Khi đạt độ lớn nhất định, chúng được đưa xuống hồ Nishinoko để phát triển thêm 3 năm. Chỉ khi đạt kích thước khoảng 20 cm, chúng mới được cấy mô hoặc nhân để hình thành ngọc trai không nhân hoặc ngọc trai có nhân. Từ đó, lại thêm 3 năm trong làn nước của hồ, lớp xà cừ mới dần tích tụ và tạo nên những viên ngọc có một không hai. Chính quá trình dài hơi và phụ thuộc hoàn toàn vào đặc tính môi trường này khiến ngọc trai Biwa mang vẻ đẹp rất riêng: màu sắc không sặc sỡ nhưng sang trọng, ánh bóng dịu nội sinh và hình dạng đôi khi kỳ lạ nhưng đầy sức quyến rũ.
Vẻ đẹp ấy từng đưa Biwa trở thành “kinh đô ngọc trai nước ngọt” của thế giới. Tuy nhiên, khi môi trường hồ xuống cấp, câu hỏi làm thế nào để tiếp tục gìn giữ ngành nghề truyền thống này trở thành mối bận tâm của nhiều người yêu hồ Biwa.
Từ vỏ trai đến ý thức môi trường

Khu vực nuôi thả trai với mỗi dây thừng gắn với một khay lưới sắt chứa trai chìm trong hồ nước. Ảnh: Nguyễn Tuyến/TTXVN
Trong những năm gần đây, việc tận dụng toàn bộ con trai – không chỉ phần ngọc – nổi lên như một hướng đi mới mang tính bền vững. Vỏ trai Biwa, sau 6 năm nuôi, rất dày và có hoa văn tự nhiên đẹp mắt. Nếu trước đây phần vỏ thường bị bỏ đi, thì hiện nay nhiều nghệ nhân đã biến chúng thành trang sức hoặc phụ kiện thời trang độc bản.
Một trong những gương mặt tiêu biểu của xu hướng này là bà Kaoru Sawa, giám đốc FLOAT Co., Ltd., người đã bắt đầu chế tác phụ kiện từ vỏ trai Biwa khoảng 10 năm trước. Trao đổi với phóng viên TTXVN, bà cho biết: “Mỗi vỏ trai có điểm mạnh và yếu riêng. Vỏ cứng sẽ tạo ra những món trang sức tuyệt vời, còn vỏ yếu thì dễ vỡ vụn. Nhưng điều quan trọng là không có chiếc nào giống chiếc nào. Khi tôi chế tác, tôi muốn lan tỏa vẻ đẹp của hồ Biwa và nhắc mọi người rằng chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng ngọc”. Với bà Sawa, việc tận dụng vỏ trai không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn là cách để nâng cao nhận thức về môi trường: “Muốn có ngọc đẹp thì hồ phải sạch. Giữ hồ Biwa sạch chính là giữ gìn di sản của chúng ta”.

Bà Kaoru Sawa, nhà thiết kế trang sức từ vỏ trai của vùng hồ Biwa, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh: Xuân Giao/TTXVN
Sự hợp tác giữa những người nuôi ngọc như gia đình Saiki và các nghệ nhân như Sawa đang mở ra một hướng đi mới cho thương hiệu ngọc trai Biwa. Dù sản lượng ngày nay vẫn chỉ ở mức nhỏ giọt, nhu cầu từ giới trẻ và các nhà thiết kế đang tăng trở lại. Ngọc trai Biwa, với vẻ đẹp nguyên bản và tính hiếm có, không còn chỉ là món trang sức mà trở thành biểu tượng của một câu chuyện dài về sự bền bỉ, thiên nhiên và bản sắc.
Trong nỗ lực hồi sinh ngành ngọc, Saiki Sangyo không chỉ tập trung vào sản xuất mà còn chủ động nghiên cứu cải thiện chất lượng nước và nuôi trai mẹ phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu. Họ kỳ vọng rằng, thông qua sự hỗ trợ của cộng đồng và những người yêu thiên nhiên, ngành ngọc trai Biwa có thể trở lại quy mô bền vững – không phải để trở thành ngành công nghiệp lớn như trước, mà để duy trì một di sản văn hóa quý giá của Nhật Bản.
Ngày nay, mỗi viên ngọc Biwa được bán ra không chỉ đại diện cho 6 năm hình thành trong lòng nước, mà còn chứa đựng tâm huyết của những người thợ, sự kiên trì của những gia đình giữ nghề và lời nhắc nhở về mối quan hệ mong manh giữa con người và môi trường. Giữa những biến động của thời đại, ánh ngọc Biwa vẫn lấp lánh – không phải vì số lượng, mà vì câu chuyện mà nó mang theo: câu chuyện của một di sản được gìn giữ qua thử thách, và của những người đã chọn tiếp tục tin vào vẻ đẹp của hồ Biwa.











